khktmd 2015






Đạo học làm việc lớn là ở chỗ làm rạng tỏ cái đức sáng của mình, thương yêu người dân, đạt tới chỗ chí thiện. Đại học chi đạo, tại Minh Minh Đức, tại Tân Dân, tại chỉ ư Chí Thiện. 大學之道,在明明德,在親民,在止於至善。












Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2016

Chuyện 'gated community' - Tác giả Lê Phan



Lần đầu tiên tôi thấy một “gated community” là ở thành phố Johannesburg của Nam Phi. Johannesburg, trong những năm đầu tiên sau khi chế độ apartheid sụp đổ là một thành phố lộn xộn, bất an. Đi vào trụ sở của Đảng ANC của cố Tổng Thống Nelson Mandela mà cũng phải qua những cửa dò vũ khí như đi vào phi trường vậy. Trên con đường từ phi trường về khách sạn, có những nơi đi qua ông tài xế vội đóng khóa cửa xe. Khi hỏi thì ông chỉ trả lời gọn lỏn “Carjack-ăn cướp xe hơi.”

Đến cả những khách sạn cũng được biến thành những pháo đài. Ngay ở Luân Đôn, tôi đã ngạc nhiên khi thấy ông bạn Travel Agent của Thế Giới Vụ chọn cho một khách sạn khá mắc tiền. Khi tôi hỏi tại sao, ông ta cười bảo “Đây là khách sạn rẻ nhất mà tôi có thể book mà bà sẽ không cần mặc áo giáp khi đi ra đường.” Tôi còn ngạc nhiên hơn nữa khi taxi vào khách sạn phải đi qua không những một trạm kiểm soát mà những nhân viên an ninh còn đưa kiếng nhìn xuống dưới gầm xe nữa. Khi tôi hỏi “Bộ họ sợ bom hả?”, ông tài xế taxi, đang nói chuyện vui vẻ với tôi, chỉ lắc đầu không trả lời.

Chỉ có một nơi ở Johannesburg không có hàng rào an ninh, không có tường cao và lính canh, đó là ở xóm nghèo như Soweto chẳng hạn.

“Gated communities,” những đồng nghiệp Nam Phi bảo tôi là một chuyện cần thiết. Việc đó có thể đúng nhưng khi tôi hỏi lại “Làm sao các bạn có thể xây dựng một nền dân chủ trên một sự phân biệt đối xử như vậy?” thì họ cũng không trả lời.

Kể từ những năm của thập niên 1990 đó, gated communities nay phổ biến khắp thế giới. Nhưng lý do có lẽ hơi khác đi một chút. Ở những thành phố như Johannesburg, gated communities hầu hết là vì lý do an ninh. Dĩ nhiên nó cũng là để tách rời người nghèo ra khỏi người khá giả hơn, nhưng chính vẫn là vì an ninh. Ở những quốc gia đang phát triển hay mới giàu lên, gated communities là để tách người nghèo ra khỏi người giàu. Và nó xuất hiện ở khắp nơi.

Thế nhưng tôi vẫn ngạc nhiên khi đọc một bài mới đây trên tờ The Guardian ở Luân Đôn về những gated communities ở Việt Nam.


Tờ báo viết “Khu Ciputra International City trị giá nhiều tỷ đô la ở phía tây bắc Hà Nội, chiếm 300 ha (741 acres) của đất ruộng trước đây bao gồm những ngôi nhà đồ sộ, trường tư, một câu lạc bộ và một nhà hàng bán rượu ngon. Bao quanh bởi những bức tường đồ sộ và cửa có lính canh, nó là một khu vực của khoe của - một thiên đường cho những nhà đầu tư ngoại quốc và giới quyền quý địa phương của thủ đô Việt Nam. Bên trong cánh cửa cổng, những con đường rộng đầy xe sang trọng, cây cọ và những pho tượng thần Hy Lạp khổng lồ.” Chưa hết “Bên kia thành phố, công trình đang xây dựng của Ecopark, một công trình kiến trúc tư vĩ đại trị giá 8 tỷ đô la, đang được xây dựng ở bờ phía đông của Hà Nội. Được dự trù sẽ hoàn tất năm 2020, nó hứa hẹn sự sang trọng kín đáo của một viện đại học tư, một 'cổ thành' giả mạo và một sân golf 18 lỗ. Giai đoạn thứ nhất, mang tên là Palm Springs - bắt chước cái tên của khu nghỉ mát trong sa mạc nổi tiếng với suối nước nóng, sân golf và khách sạn năm sao - đã vừa hoàn tất.”

Bên kia đường của khu Ciputra là những người như ông Lam, 40 tuổi. Ông lớn lên ở rìa phía tây thành phố Hà Nội giữa những cánh đồng lúa, vườn đào quất. Ngày nay ông sống qua ngày nhờ bán những khung hình tự làm lấy ở một cửa tiệm chiếm mặt tiền căn nhà mình ở. Cánh đồng đã biến mất, băng qua bên kia đường, những tường cao chia cách bên của ông Lam, một khu lộn xộn xe gắn máy, ghế nhựa bên lề bán nước trà và giây điện chằng chịt khắp nơi, với bên kia của Ciputra City với nhân viên an ninh tư canh gác 24 trên 24. Ông bảo “Trước đây, hầu hết mọi người đều nghèo. Nay khác rồi.” Kế bên tiệm của ông là quán nước của bà Miên, 59 tuổi. Bà than phiền, “Bên này chỉ là người bình thường như chúng tôi. Bên kia họ giàu lắm. Bên này chúng tôi chỉ đủ sống.”

Giáo Sư Lisa Drummond, giáo sư đô thị học của Viện Đại Học York ở Toronto, Canada, đã nghiên cứu Hà Nội từ nhiều thập niên nay. Bà bảo “đã có một cái hố mở ra” giữa người giàu và người nghèo, và những khu như Ciputra và Ecopark phản ảnh - nhưng cũng duy trì - những bất bình đẳng này.

Vào một buổi sáng ngày đi làm, xe cộ bên ngoài khu Ciputra như mắc cửi, ồn ào náo nhiệt. Nhưng bên trong khu này, vốn được quảng cáo là “một ốc đảo bình yên giữa những ồn ào nhộn nhịp” của Hà Nội, mọi sự yên tĩnh và trật tự. Những người bán hàng rong không được vào bên trong, âm thanh duy nhất là từ tiếng trẻ em đang chơi trong sân của một trong những trường tư của khu đô thị này.
Ở đầu kia của thành phố, Ecopark quảng cáo “một sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên” khoe là “nhiều khoảng trống nơi bạn và gia đình có thể đi bộ hay ngồi dưới bóng mát của một cây cao để ăn picnic, hưởng thiên nhiên tốt đẹp nhất!”

Tờ báo nhắc đến là hồi năm 2006, việc xây dựng Ecopark đã bị gián đoạn vì sự phản đối của dân chúng mất ruộng, mất đất cho dự án. Các cuộc phản đối lại bùng lên trong năm 2009 và 2012. Tháng 4 năm 2012, công an đổ bộ xuống làng để tấn công vào người dân vũ trang bằng đá và bom xăng. Công an bắn hơi cay vào đám đông, rồi xông vào đàn áp, một trong những vụ tranh chấp đất đai bạo động nhất trong những năm gần đây. Nhiều người biểu tình bị bắt. Nhà báo tường thuật vụ cưỡng chiếm đất đai bị công an hành hung.

Giáo Sư Danielle Labbé, chuyên về kiến thiết đô thị của Viện Đại Học Montreal, đã theo dõi sự bùng nổ của những “khu đô thị mới” này ở Hà Nội trong nhiều năm nay. Bà dự đoán có 35 dự án tương tự đã hoàn tất và có đến 200 dự án đang được phát triển. Tuy không phải khu nào cũng kín cổng cao tường, nhưng tất cả những khu này đều nhắm vào cùng một nhóm khách hàng, những người mà nay trong nước gọi là “siêu giàu” và hứa hẹn cho họ một cuộc sống cách biệt.

Trên toàn Việt Nam, những dự án này, dựng lên qua việc chiếm đất ruộng, đã gặp phải phản đối vì mức bồi hoàn cho dân rẻ mạt. Bà Labbé thêm “Đã có những cuộc phản đối, ở mọi nơi trên toàn quốc, trong mấy năm gần đây.” Bà thêm, “Họ biết đất đai của họ trị giá bao nhiêu,” vả lại họ là những người mất tất cả. Họ không được công ăn việc làm ở những dự án này. Những khu đô thị mới này không được hoạch định để tạo bao nhiêu công ăn việc làm ngoại trừ đi làm người hầu kẻ hạ, làm bồi, làm bếp, vốn là những điều không người nông dân nào muốn cho mình và cho con cái mình.

Để phát triển Ecopark, nhiều ngàn gia đình đã bị buộc phải bán đất, với nhiều gia đình nông dân nay thất nghiệp và mang công mắc nợ vì mất kế sinh nhai. Cụ Phú là một người như vậy. Năm nay ngoại 80, cụ là một nông dân sống ở làng Xuân Quang, không xa Ecopark. Cụ nói gia đình mình mất gần 1,000 mét vuông mà họ chỉ nhận được có 50 triệu đồng tiền bồi thường (khoảng 1,500 đô la). Cụ bảo, “Dân chúng bảo không muốn bán đất vì nông dân mà không có ruộng thì như là công nhân không có xí nghiệp. Nay chúng tôi mất đất rồi, chúng tôi làm gì bây giờ?”

Và cuộc sống ở hai bên con đường ngày càng xa cách. Ông Lam, làm nghề làm khung hình, nói ông chả có bao nhiêu khách từ bên kia. Trên bàn của ông, dựa vào tường là ba bức tranh lòe loẹt, được đóng khung một cách lịch sự chỉ dùng gỗ đen, là hàng hiếm có được một nhà bên kia đường đặt hàng. Ông bảo, “Người giàu và người ngoại quốc họ đi sắm đồ ở những shopping malls lớn, sang trọng. Chúng tôi sống ngay kế cận nhưng không mấy ai tìm đến.”

Ngay ở Hoa Kỳ, gated communities chỉ xuất hiện khi chênh lệch giàu nghèo gia tăng. Thời thập niên 1960, chỉ có một vài nhà tỷ phú hay tài tử xây lâu đài chứ không có những khu cách biệt như ngày nay. Vẫn biết những gated communities ở Hoa Kỳ hầu hết là dành cho giới trung lưu. Những người thật giàu không cần vì họ sống tách biệt ra rồi.

Nhưng tôi vẫn nghĩ là những gì các cộng đồng này biểu tượng là một dấu hiệu không tốt cho một xã hội lành mạnh. Chính sự thiếu lành mạnh đó đã làm cho người ta thích luận điệu của những người như ông Donald Trump. Cái may của một nền dân chủ là những bất công uất ức của những người đang bị thiệt thòi được bộc lộ. Ông Donald Trump đã nói lên tiếng nói của những người da trắng trung lưu mà vị thế đang bị đe dọa khi công ăn việc làm biến mất, khi đồng lương không tăng và khi con đường tương lai mờ mịt.

Ở một quốc gia độc tài, những uất ức đó không được bộc lộ trong khuôn khổ chính trị của chế độ. Những người dân Văn Giảng, Dương Nội, những nông dân mất đất, mất kế sinh nhai không được ai để ý tới, không có tiếng nói. Nhưng họ vẫn phải sống kế bên những kẻ đã tước đoạt đất đai của họ. Và hàng ngày họ phải chứng kiến sự giàu sang của những kẻ đó.

Sự uất ức của họ sẽ chồng chất lên nhưng không có lối thoát. Karl Marx khi kêu gọi giai cấp công nhân vùng lên đã bảo là họ “không còn gì để mất.” Những người nông dân bị cưỡng chiếm đất đai ở Việt Nam cũng “không còn gì để mất nữa!”

Dĩ nhiên một cuộc nổi dậy còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố nội tại và ngoại lai, từ lãnh đạo, tổ chức đến hoàn cảnh thế giới. Trước khi Cách Mạng Hoa Lài bùng lên ở Tunisie là còn biết bao nhiêu bất mãn chất chứa tích tụ. Và sự bùng nổ thường rất khó tiên đoán. Sự bùng nổ đó có thành công hay không cũng còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố nhưng quan trọng nhất là khi nào kẻ cầm súng từ chối bắn vào người dân. 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét