khktmd 2015






Đạo học làm việc lớn là ở chỗ làm rạng tỏ cái đức sáng của mình, thương yêu người dân, đạt tới chỗ chí thiện. Đại học chi đạo, tại Minh Minh Đức, tại Tân Dân, tại chỉ ư Chí Thiện. 大學之道,在明明德,在親民,在止於至善。












Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2019

Suy thoái kinh tế Tàu Cộng tệ đến mức nào?



Nền kinh tế Trung Quốc đang chậm lại trong một giai đoạn sáng sủa hơn của thập niên qua, nhưng một loạt dữ liệu nghèo nàn gần đây đã làm dấy lên những lo ngại mới.
Điều gì đang khiến các nhà đầu tư lo lắng, và Trung Quốc phản ứng như thế nào?

Trung Quốc trở thành động lực chính của sự tăng trưởng kinh tế thế giới khi các quốc gia phát triển đang chịu thiệt hại sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.
Giờ đây, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang phát triển với tốc độ chậm nhất kể từ đầu những năm 1990.

Trung Quốc chứng kiến sản lượng công nghiệp tăng với tốc độ chấm nhất kể từ tháng 8/2002.

Vài tuần sau, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường nói rằng sẽ không dễ để nước này duy trì tốc độ tăng trưởng trên 6%.

Các vấn đề trong nước, thương chiến với Mỹ và dịch tả lợn, tất cả đang phá vỡ sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc.

"Sực chậm lại ở Trung Quốc đang trở nên khá đáng kể", Tommy Wu, chuyên gia kinh tế cao cấp từ Oxford Economics nói.

"Cả sự suy yếu của kinh tế trong nước và môi trường bên ngoài xấu đi, bao gồm cả suy thoái toàn cầu và căng thẳng thương mại Mỹ-Trung, đều có vai trò trong sự chậm lại của Trung Quốc.

Do tầm quan trọng của Trung Quốc trong nền kinh tế toàn cầu, và nhu cầu lớn của nước này với bất cứ gì từ hàng hóa đến máy móc, bất kỳ sự suy thoái nào cũng có thể có những hậu quả sâu rộng.

Gary Hufbauer, thuộc Viện Kinh tế Quốc tế Peterson, ước tính rằng mức tăng một phần trăm trong tăng trưởng của Trung Quốc có thể sẽ lấy đi 0,2 điểm phần trăm của tăng trưởng toàn cầu.


Điều gì đang xảy ra ở Trung Quốc?


Dữ liệu chính thức vẽ ra một triển vọng ngày càng u ám.
Sản lượng công nghiệp đang tăng trưởng với tốc độ chậm nhất kể từ 2002, và doanh số bán lẻ đang chậm lại.

Xuất khẩu của Trung Quốc giảm 1% trong tháng Tám so với một năm trước đó và xuất khẩu sang Mỹ giảm mạnh 16% - một dấu hiệu rõ ràng cho thấy tranh chấp với Hoa Kỳ đang làm tổn thương thương mại song phương.

Nhưng trong khi tăng trưởng giảm ở mức hai con số vào giữa những năm 2000, sự chậm lại gần đây tương đối từ từ.
Kinh tế Trung Quốc tăng 6,2% so với cùng kỳ trong quý II, giảm từ 6,4% trong ba tháng đầu năm, và 6,6% trong năm 2018.

"Không phải như thể tăng trưởng của Trung Quốc hoàn toàn rơi xuống vách đá," Frederic Neumann, đồng giám đốc nghiên cứu kinh tế châu Á tại HSBC.

"Ngược lại, vẫn còn nhiều túi tăng trưởng," ông nói thêm, nhằm nói đến xây dựng nhà cửa và chi tiêu trong lĩnh vực dịch vụ.

Nhân tố kích thích có hiệu quả thế nào?


Chính phủ Trung Quốc đã tìm cách hỗ trợ nền kinh tế trong năm nay bằng cách cắt giảm thuể, và bằng các biện pháp để tăng thanh khoản trong hệ thống tài chính.

Nhưng ông Neumann nói rằng khoảng thời gian này, chính phủ đã "hạn chế khá nhiều" khi cấp tín dụng cho các công ty và cá nhân, và quản lý nhân tố kích thích.

Đó là bởi vì chính phủ tin rằng Trung Quốc cần hạn chế rủi ro trong hệ thống tài chính của mình và hạ nhiệt tăng trưởng tín dụng nhanh chóng trong những năm gần đây, ông nói thêm.

"Chính quyền Trung Quốc không thực sự cho thấy dấu hiệu dao động từ dấu vết này ... vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà chúng ta thấy con số tăng trưởng kinh tế yếu hơn", ông Neumann nói.

Phụ thuộc rất nhiều vào đầu tư cơ sở hạ tầng để kích thích nền kinh tế trong những năm qua, các nhà phân tích nói rằng Trung Quốc đã hạn chế điều này.

Thay vào đó họ chọn cách cắt giảm thuế, có xu hướng kém hiệu quả hơn trong việc thúc đẩy tăng trưởng so với đầu tư vào cơ sở hạ tầng, ông Wu nói.

Ông Wu kỳ vọng Bắc Kinh sẽ làm nhiều hơn để kích thích nền kinh tế trong tương lai - thông qua cả chính sách tài khóa và tiền tệ - nhưng lo lắng điều này sẽ là không đủ.
"Chúng tôi hy vọng sẽ có nhiều hơn để giúp ổn định tăng trưởng vào năm tới. Nhưng rủi ro chính là các nhà chức trách không thúc đẩy chính sách hỗ trợ đủ để ổn định tăng trưởng."

Điều không mong muốn từ thương chiến là gì?


Hoa Kỳ và Trung Quốc đang chiến đấu trong cuộc chiến thương mại kéo dài hơn một năm và dự kiến sẽ có thêm nhiều áp thuế.

Tác động từ thuế quan của Mỹ đã được bù đắp ở một mức độ nào đó bởi đồng nhân dân tệ yếu hơn, Julian Evans-Pritchard thuộc Capital Economics nói, trong khi Trung Quốc cũng tìm cách bỏ qua thuế bằng cách xuất khẩu sang Mỹ thông qua các nước châu Á khác.

Ông nói rằng thị phần xuất khẩu toàn cầu của Trung Quốc đã thực sự tăng trong năm qua, cho thấy sự sụt giảm xuất khẩu của Trung Quốc đã kém rõ rệt hơn so với các nước khác.
Trong khi đó, các doanh nghiệp phương Tây đang thấy ngày càng khó điều hướng sự không chắc chắn.

Một số đã chuyển sản xuất ra khỏi Trung Quốc, mặc dù con số không đủ lớn để hiển thị trong dữ liệu kinh tế, ông Evans-Pritchard nói.

"Các mức thuế này càng tồn tại lâu, điều này càng kéo dài, chúng ta sẽ thấy cơ hội nhiều công ty chuyển ra khỏi Trung Quốc ngày càng cao, và nó cũng khiến quốc gia này trở thành một nơi kém hấp dẫn để trở thành nơi đầu tư đầu tiên", ông nói.

Trong khi nhiều công ty sẽ muốn giữ một số sản xuất ở Trung Quốc để phục vụ cho thị trường nội địa quan trọng của mình, có dấu hiệu một số công ty đang xem xét các lựa chọn của họ.

Theo khảo sát năm 2019 của Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Trung Quốc, 65% thành viên cho biết căng thẳng thương mại đang ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh dài hạn của họ. Gần một phần tư những người được hỏi đang trì hoàn đầu tư vào Trung Quốc, khảo sát cho biết.

Dịch tả lợn bùng phát thì sao?


Dịch tả lợn chết người tạo thêm lực cản cho nền kinh tế Trung Quốc trong năm qua.

Trung Quốc, nhà sản xuất thịt lợn lớn nhất thế giới, đã chiến
đấu để kiểm soát dịch bệnh ngay cả sau khi giết mổ hơn một triệu con lợn.

Sự thiếu hụt nguồn cung đã khiến giá thịt lợn tăng vọt - 46,7% trong tháng Tám so với một năm trước đó - và nó đánh vào thu nhập hộ gia đình.

Trung Quốc xả kho thịt lợn dự trữ vì dịch tả lợn hoành hành
"Giá thịt lợn tăng gần gấp đôi", Hufbauer từ Viện Peterson cho biết thêm rằng điều này "rất đau đớn đối với người Trung Quốc có thu nhập thấp."

Thịt lợn là một trong những mặt hàng thực phẩm chủ yếu của Trung Quốc và chiếm hơn 60% lượng tiêu thụ thịt của nước này.

Một số đã chuyển sản xuất ra khỏi Trung Quốc, mặc dù con số không đủ lớn để hiển thị trong dữ liệu kinh tế, ông Evans-Pritchard nói.

"Các mức thuế này càng tồn tại lâu, điều này càng kéo dài, chúng ta sẽ thấy cơ hội nhiều công ty chuyển ra khỏi Trung Quốc ngày càng cao, và nó cũng khiến quốc gia này trở thành một nơi kém hấp dẫn để trở thành nơi đầu tư đầu tiên", ông nói.

Trong khi nhiều công ty sẽ muốn giữ một số sản xuất ở Trung Quốc để phục vụ cho thị trường nội địa quan trọng của mình, có dấu hiệu một số công ty đang xem xét các lựa chọn của họ.

Theo khảo sát năm 2019 của Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Trung Quốc, 65% thành viên cho biết căng thẳng thương mại đang ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh dài hạn của họ. Gần một phần tư những người được hỏi đang trì hoàn đầu tư vào Trung Quốc, khảo sát cho biết.


Cộng đồng Việt tại Úc kêu gọi tự do cho ông Châu Văn Khảm



Cộng đồng người Úc gốc Việt vừa tổ chức thắp nến cầu nguyện ở Sydney để kêu gọi sự chú ý của công luận về trường hợp ông Châu Văn Khảm đang bị giam giữ tại Việt Nam, theo SBS News.
Các bức ảnh cho thấy người dân thắp nến và cầm các biểu ngữ viết: "Hãy cứu Châu Văn Khảm".

Ông Châu Văn Khảm, 70 tuổi, bị bắt tại thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 1/2019 khi đang thực hiện nhiệm vụ "tìm hiểu thực tế". Ông đã bị giam giữ tám tháng mà không có luật sư và dự kiến sẽ được đưa ra xét xử trong vòng 2-3 tháng tới với tội danh "Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân", theo các thông tin mới nhất từ lãnh sự quán mà hãng SBS News có được.
Khung hình phạt cho tội danh này là từ chung thân đến tử hình, theo luật Việt Nam.

Gia đình ông Khảm nói gì?


"Chúng tôi nghe nói ông ấy sẽ ra tòa và lo ngại rằng nếu chúng tôi không gây chú ý, ông ấy có thể nhận một bản án rất khắc nghiệt", bà Châu Trang, vợ ông Châu Văn Khảm, nói với SBS News trong buổi cầu nguyện.

Con trai của ông Châu Văn Khảm, Dennis Châu, sống tại London, gần đây đã gửi một lá thư dài 33 trang về trường hợp của cha mình tới văn phòng Bộ trưởng Ngoại giao Marise Payne tại Sydney.

"Tôi nghĩ rằng đó là nỗ lực cuối cùng để chính phủ chú ý ... Chúng tôi không muốn bố tôi bị lãng quên," ông Dennis Chau nói với SBS News.

"Tôi đã được văn phòng của bà ấy nói rằng bà sẽ trả lời nhưng tôi chưa nhận được gì cả."

Vợ ông Châu Văn Khảm nói gia đình thất vọng vì thiếu sự hỗ trợ của Thủ tướng Úc đối với trường hợp của ông.

Thủ tướng Úc Scott Morrison thăm Việt Nam vào cuối tháng Tám và gặp Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc nhưng không có dấu hiệu nào là vụ việc của ông Châu Văn Khảm được nêu ra trong dịp này, theo lời bà Châu Trang.

Bà Châu Trang cũng nói rằng bà mong chính phủ Úc sẽ vào cuộc mạnh mẽ hơn vì chồng bà "sắp bị đem ra xét xử ở một nhà nước cộng sản độc đảng," theo SBS News.

Chính quyền Úc nói gì?


Người phát ngôn của ông Morrison nói với SBS News, "chúng tôi nêu vấn đề nhân quyền với chính phủ Việt Nam".
"Chúng tôi không tiết lộ chi tiết các cuộc thảo luận bí mật giữa các nhà lãnh đạo."

Bộ Ngoại giao Úc cho biết sẽ không bình luận về việc liệu họ có đang làm gì để giải quyết vụ việc của ông Châu ngoài việc cung cấp hỗ trợ lãnh sự hay không.

"Vì lý do riêng tư, chúng tôi không thể cung cấp thêm thông tin chi tiết."

SBS News cũng đã liên lạc với Bộ Ngoại giao Việt Nam để hỏi ý kiến bình luận nhưng chưa thấy có thông tin.

Truyền thông Việt Nam nói gì?


Chưa thấy báo Việt Nam tường thuật các diễn biến mới nhất trong vụ việc của ông Châu Văn Khảm. Bài báo mới nhất là từ ngày 18/2/2019, trên Công An Nhân Dân, với tiêu đề "Lật tẩy chiêu trò của tổ chức phản động Việt Tân sau sự việc Châu Văn Khảm".

Tờ này viết rằng ông Châu Văn Khảm, bí danh Hoàng Liêm (70 tuổi, quê gốc ở Thừa Thiên - Huế), từng nhập ngũ và tham gia lính Việt Nam Cộng hòa, được đào tạo và được đưa về làm việc tại Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa. Sau năm 1975, ông Khảm tỵ nạn tại Malaysia rồi sau đó định cư ở Úc.

Tờ này nói ông Khảm nhập cảnh trái phép vào Việt Nam hồi tháng 1/2019 để "huấn luyện" và "kết nạp" một số người vào Việt Tân, "chuẩn bị cho hoạt động chống phá".

Bài báo cho hay ông Khảm vi phạm Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, cụ thể là Điểm 4 "Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật để được nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam" và Điểm 5 "Lợi dụng việc nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam để chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân".

Tờ này cũng nói ông Khảm cũng vi phạm Điểm 1, Bộ luật Hình sự Việt Nam 2015, "Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân".

Đảng Việt Tân nói gì?


Hôm 25/1, Đảng Việt Tân ra thông cáo báo chí về sự mất tích của ông Khảm, cho hay ông Khảm về Việt Nam để "tìm hiểu và lượng định hiện trạng nhân quyền" tại đây.

Ông Nguyễn Đỗ Thanh Phong, đại diện Đảng Việt Tân tại Úc, thời điểm đó đã nói với BBC rằng ông Khảm đã nhập cư vào Úc từ khoảng hơn 20 năm trước và là một thành viên lâu năm của đảng, tham gia tích cực các hoạt động thúc đẩy dân chủ và thường xuyên tiếp xúc với chính giới và Bộ Ngoại giao Úc để vận động cho nhân quyền.

Ông Phong cũng cho biết ông Khảm không dự tính về để "tổ chức biểu tình hay tham gia sinh hoạt gì cả, chỉ đi tham khảo tình hình trong nước, gặp lại bạn bè".

Đảng Việt Tân, hay tên đầy đủ là Việt Nam Canh tân Cách mạng đảng đã bị chính quyền Việt Nam liệt vào danh sách các tổ chức khủng bố vào tháng 10/2016.

Theo Cổng thông tin điện tử Bộ Công an, người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ của 'Việt tân'; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do 'Việt tân' tổ chức; hoạt động theo sự chỉ đạo của 'Việt tân'… sẽ đồng phạm tội khủng bố, tài trợ khủng bố và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam.


Du Ca Việt Nam- Saigon đồng ca Anh Em Tôi, nhạc Nguyễn Đức Quang






Định Mệnh Đang Gõ Cửa






Việt Nam Tuần Qua, 28/9/2019






Nhạc Đề: Mộng Dưới Hoa






Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2019

Minh Oan Và Vinh Danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - Tác giả Lâm Vĩnh Thế






Chết Già Tự Nhiên



Người vợ mất trí và khó ăn, thay vì đặt ống thông, người chồng chỉ bón 2 gói thạch mỗi ngày, cuối cùng bà ra đi trong yên lặng. 
Giáo sư lão khoa Masahiro Akishita thuộc Đại học Tokyo, đồng thời là chủ tịch hiệp hội Lão khoa Nhật Bản cho biết việc hồi sức tim, phổi hoặc sử dụng dinh dưỡng nhân tạo kéo dài sự sống với người già đang giảm dần hiện nay.
 
Masahiro Akishita tiền thân là một bác sĩ phẫu thuật mạch máu hàng đầu Nhật Bản, từng được đánh là một trong 100 bác sĩ giỏi nhất nước này. Ông cho biết, mặc dù bản thân luôn tin rằng chiến đấu với bệnh tật là nhiệm vụ của bác sĩ và "cái chết là sự thua cuộc với Thần Chết", tuy nhiên, khi đối mặt với các căn bệnh của người già, đặc biệt là những bệnh nhân không thể điều trị, ông bắt đầu nhận ra một thực tế: dù y tế có tiến bộ thế nào đi nữa, không có cách nào để tạo nên một sức nặng đối trọng với sự lão hóa tự nhiên.
Masahiro Akishita từng thăm nhà tế bần St Christopher's Hospice, Anh. Nơi này đã đánh dấu sự thay đổi trong cách nhìn của ông về cuộc sống. Ở đây, ông chứng kiến những người bệnh ung thư giai đoạn cuối được chăm sóc giảm nhẹ, thay vì dành thời gian để loại bỏ cơn đau bằng cách sử dụng máy móc y tế, họ vẽ tranh, chơi piano, hút xì gà... Trong những giờ phút cuối đời, họ làm những điều mình muốn, và đó là "những khoảnh khắc có ý nghĩa phi thường".
Với những "trải nghiệm" sau chuyến đi, bác sĩ người Nhật rời viện nơi mình đang công tác và đến một viện dưỡng lão mới, nơi đang gặp khó khăn vì thiếu bác sĩ. Tại đây, ông cùng cộng sự chia sẻ cách chăm sóc bệnh nhân trong những ngày cuối đời, cùng thảo luận với người nhà họ về việc làm thế nào để người bệnh được giảm thiểu tác động y tế (ví dụ như đặt ống xông dạ dày nếu gặp khó khăn khi ăn uống).

Câu chuyện ly nước "tùy chỉnh" trên đảo Miyakejima


Tiến sĩ Masahiro Akishita đã "trải nghiệm" những ca khiến ông suy nghĩ sâu sắc về giá trị của việc lựa chọn "chết già". Ví dụ như một phụ nữ quê ở đảo Miyakejima, thuộc quần đảo Izu, Nhật Bản. Người bệnh trong quá trình ăn, thức ăn lọt vào đường khí quản, gây "viêm" phổi. Bác sĩ đề nghị đặt ống thông qua đường mũi để cung cấp dinh dưỡng.
Tuy nhiên, người con trai của bệnh nhân nói: "Trên đảo của chúng tôi, nếu một người quá già để ăn, chỉ nên đặt ly nước ở bên cạnh. Nếu người đó vẫn còn sức sống, họ sẽ vươn ra để uống ly nước. Còn nếu không thể làm điều đó, hãy cứ để cho họ như vậy. Tôi không thể từ chối việc đặt nội khí quản cho mẹ, nhưng thật đau đớn khi thấy mẹ phải ăn đường ống".
Người đàn ông nói với bác sĩ, cái chết là một sự thật tự nhiên không thể bị xâm phạm với những người dân trên đảo. Anh đã quen với sự ra đi yên bình như thế của những người thân thiết theo cách đó. Đến nay, văn hóa ấy không còn, thay vào đó, nhiều người già ở trên đảo sẽ kết thúc cuộc sống trong một bệnh viện, nhưng anh cho rằng cách truyền thống sẽ tốt hơn. 

"Trải nghiệm" thứ hai mà bác sĩ người Nhật trải qua, là quá trình điều trị cho một cặp vợ chồng già. Người vợ mắc chứng mất trí nhớ và gặp vấn đề về ăn uống, rất khó để nuốt ngay cả những thức ăn đơn giản nhất, bà được gửi tới viện dưỡng lão, còn người chồng một mình ở nhà, mỗi ngày đều vào thăm vợ hai lượt, điều này kéo dài một năm rưỡi.
Người chồng thay vì đặt ống thông cho vợ, ép buộc vợ ăn, ông nhẫn nại chăm sóc vợ với mỗi ngày hai gói thạch, mỗi gói 300 calo. Mặc dù tổng lượng calo bà nạp vào người chỉ 600 calo/ngày, mà theo bác sĩ là "không đủ để duy trì sự sống", chồng bà không muốn làm vợ khổ bằng cách đặt ống. 
Ông nói thời trẻ vợ đã chăm sóc ông rất tốt, giờ là lúc ông đền đáp lại, và "hãy để cô ấy ăn những gì có thể". Thời gian ngủ của bà cụ mỗi ngày một dài, và cuối cùng, một ngày, bà ra đi trong yên lặng. Không ép ăn, không đặt nội khí quản, chỉ đồng hành bên người vợ trong suốt hành trình chăm sóc, đó là lựa chọn của người chồng.
Khảo sát mới nhất của Nhật Bản cho thấy, 90% người Nhật trên 55 tuổi từ chối chấp nhận điều trị y tế kéo dài cuộc sống, trái lại, muốn để cái chết diễn ra một cách tự nhiên. Đối với họ, "chết già" là lời tạm biệt đẹp đẽ nhất với cuộc đời.
Tờ The Asahi Shimbun đưa tin, ngày càng nhiều người Nhật "chết tự nhiên" do tuổi già, đây hiện được xếp là nguyên nhân thứ ba gây tử vong sau ung thư và tim mạch, theo thống kê của Bộ Y Tế. 

 
Sự gia tăng số người mất vì tuổi già một phần do ngày càng nhiều người chọn mất ở nhà riêng hoặc các cơ sở chăm sóc điều dưỡng, thay vì đến bệnh viện và sử dụng các liệu pháp kéo dài cuộc sống.
 

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2019

Phỏng Vấn Nhạc Sĩ Ngọc Sơn







Chuyện Hà Nội- Tác giả Ngô nhật Đăng



Người Hà Nội cũ quanh phố cổ mấy ai mà không biết cái hiệu thuốc Tây có tên 8-3 của Công ty dược phẩm Hà Nội gần vườn hoa Bà đầm xòe sau 54 gọi là vườn hoa Cửa Nam, những năm 75, 76… Nhà thuốc này và ở ngôi nhà bên cạnh rất đông người đến lấy thuốc có cái tên hơi lạ :“vi lượng đồng căn” chữa bệnh hen suyễn và vẩy nến, lạ hơn là người bốc thuốc không bao giờ lấy tiền. Người ta chỉ biết ông bà là công chức “thu dung” của chế độ cũ, ông làm ở nhà thương Phủ Doãn còn bà ở nhà thương phụ sản còn gọi là bệnh viện C. Không hiểu sao tôi rất thích từ “Nhà thương”, một từ phổ biến sau này bị đổi thành “Bệnh viện” nhưng những người già vẫn dùng từ nhà thương như : Nhà thương Phủ Doãn, nhà thương Khách (của người Hoa trước 54, sau này gọi là bệnh viện Hòe Nhai)…

Mấy ông già ở phố nhà tôi bảo : Ông ấy được gọi là Clark Gable vì đẹp trai và để bộ ria giống nhân vật chính trong bộ phim khét tiếng “Cuốn theo chiều gió” làm dậy sóng Hà Nội hồi trước 54. Bố tôi nói với tôi : Ông ấy tên là Thẩm Hoàng Tín học dược ở Paris, còn là Thị trưởng Hà Nội từ năm 50-52.

Một lần theo Thầy ra ngắm bóng nắng của cây Tháp Bút vào ngày Đoan Ngọ (vào ngày này đúng giờ Thìn bao giờ bóng của Tháp Bút cũng chấm vào đúng Đài Nghiên trên cổng vào đền Ngọc Sơn), Thầy tôi nói : Cây cầu Thê Húc này là do ông Thẩm Hoàng Tín cho xây lại sau khi Hà Nội bị tàn phá bởi “tiêu thổ kháng chiến” cùng với rất nhiều khu nhà bị đổ nát chỉ còn gạch vụn, Thầy tôi nói thêm : “ Ông Tín có công rất lớn trong việc xây dựng lại Hà Nội” rồi thở dài.


Sau này tìm hiểu về Thẩm Hoàng Tín tôi biết thêm ông còn là con nuôi cụ Hoàng Huân Trung Chủ tịch hội Khai Trí Tiến Đức. Chữ Hoàng trong tên ông là vì lý do này, cụ Hoàng Huân Trung lại là cha của Đô đốc Hoàng Cơ Minh người sáng lập phong trào kháng chiến tiền thân của đảng Việt Tân.

Vậy sao ông Tín lại ở lại mà không di cư vào Nam ?

Ngày đó trước làn sóng di cư ồ ạt, ông Hồ Chí Minh lo lắng bởi những nhà tư bản, chủ xưởng, chủ nhà máy… sẽ mang của cải ra đi, ông phái ông Nguyễn Duy Trinh vào Hà Nội gặp Thẩm Hoàng Tín, khen ngợi một người có tấm lòng “vì dân, vì nước” và mong muốn ông Tín ở lại và vận động những người “hằng tâm hằng sản” cũng ở lại để xây dựng đất nước đã được độc lập.

Ông Tín chấp nhận ở lại với cam kết tài sản của ông và của những người “tư sản dân tộc” sẽ không bị tịch thu. Rất nhiều người giàu cũng ở lại, họ nói “ Ông thị trưởng còn ở lại kia mà”, phần đông nghĩ dù Việt Minh cộng sản thì cũng là người Việt, có lẽ nào….

Và cái chuyện “Có lẽ nào ?” đã xảy ra. Chỉ kể riêng chuyện ông Tín.

Chuyện kể rằng, khi bị "kiểm kê" tài sản, dù ông Tín trước đó đã "tự nguyện hiến tặng" một số tài sản như nhà và xe. Ông Tín tìm gặp ông cụ để thắc mắc, ngài kịch sĩ vĩ đại gọi đàn em lên trách móc, vị đàn em nói : "Nhưng đó là ý nguyện của nhân dân". Lãnh tụ quay sang nói với khổ chủ :

- Chú thấy đó, đã là ý nguyện của nhân dân thì bác cũng chịu.

Và ông Tín cũng phải chịu. Sau này, đến năm 1980 ông Tín sang Pháp với con cái để “chữa bệnh” và mất ở Paris.

Ps : Ông bạn vong niên (sinh năm 1952) của tôi là con một nhà tư sản ở lại theo lời khuyên của ông Thẩm Hoàng Tín, ông “tư sản” này có một xưởng sửa chữa ô-tô vào loại lớn nhất miền Bắc. Năm 58, khi chứng kiến một cuộc biểu tình trên đường phố hô khẩu hiệu : “ Đả đảo Ngô Đình Diệm !”, đứng trên vỉa hè ông “ngứa mồm” nói : “ Ông Diệm làm gì mà đả đảo người ta?”.Thế là, nhanh như chớp, hai người đứng sau lưng ông bẻ quặt tay ông lại và dẫn đi, khi ra tù thì ôi thôi, tài sản đã bị tịch thu bởi ông chủ nó là “phản động”. Khi kể chuyện này với tôi, con trai ông giờ là một anh thợ cạo trên vỉa hè (gần cái garage của ông bố) chỉ cười như mếu. Anh là một Catholic chân chính nên không biết văng tục.

hồ chí minh ra đi cứu nước hay kiếm cơm? - Tác giả Người Linh Già Oregon



Câu trả lời đã nằm, vững chắc như tảng đá, trong lá đơn xin học Trường Thuộc Địa Pháp của anh bồi trên tàu Amiral Latouche Tréville tên Nguyễn Tất Thành, alias Nguyễn Ái Quốc, alias Hồ Chí Minh, alias “Bác Hồ vĩ đại vô vàn kính yêu” của bọn Cộng Phỉ hiện nay.

Năm 1983, giáo sư Nguyễn Thế Anh và nhà sử học Chánh Đạo, tức Vũ Ngự Chiêu, tức nhà văn Nguyên Vũ(1), tình cờ bắt gặp tại Văn Khố Đông Dương ở Aix-En-Provence và kho tài liệu trường Thuộc Địa, Paris, hai lá đơn viết tay của Nguyễn Tất Thành xin vào học tại trường đó. Một lá gửi cho ông Bộ trưởng Thuộc Địa, mà lúc ấy, tôi nghĩ, là Albert Lebrun, căn cứ theo ngày tháng ghi trong lá đơn của Thành (15/9/1911) và nhiệm kỳ của ông Bộ trưởng (27/6/1911 - 12/1/1913), và một lá (sao y bản chánh, chỉ đổi tên người nhận, gọn hơn vì bỏ một vài chi tiết nhỏ(2) gửi cho Tổng thống Pháp, bấy giờ là Armand Fallières, nhiệm kỳ 18/2/1906 - 18/2/1913. Nhưng tôi không tin Nguyễn Tất Thành, khi ấy, biết được tên của hai vị này, vì nếu biết, theo cách thức viết công thư, anh ta đã phải gọi đúng tên của hai vị. Trong cả hai lá đơn, Nguyễn Tất Thành rất hà tiện về dấu chấm, dấu phẩy sau hoặc giữa mỗi câu  –điều rất quan trọng trong cách hành văn Pháp. Cũng không thèm ký tên, không ghi trình độ học vấn, không đính kèm bằng cấp, mà anh ta làm sao có được?

Sao y đơn viết tay (chỉ có bốn dấu phẩy, không dấu chấm nào) của Nguyễn Tất Thành:

   Marseille le 15 Septembre 1911
   Monsieur le Président de la République
   J’ai l’honneur de solliciter de votre haute bienveillance la faveur d’être admis à suivre les cours de l’Ecole Coloniale comme interne
   Je suis actuellement employé à la Compagnie des Chargeurs Réunis “Amiral Latouche Tréville” pour ma substance
   Je suis entièrement dénué de ressources et avide de m’instruire. Je désirerais devenir utile à la France vis à vis de  mes compatriotes et pouvoir en même temps les faire profiter des bienfaits de l’Instruction
   Je suis originaire de la province de Nghê An en Annam
   En attendant une réponse que j’espère favorable, agréez, Monsieur Le Président, l’assurance de ma reconnaissance anticipée
   Nguyễn Tất Thành, né à Vinh en 1892, fils de Mr. Nguyễn Sinh Huy (sous-docteur es- lettres)  Etudiant français  quốc ngữ  caractères chinois

Bản dịch, theo nguyên bản, bởi NLGO:

   Marseille ngày 15 tháng chín 1911
   Kính thưa Tổng Thống Cộng Hòa
   Tôi có vinh hạnh khẩn cầu Ngài ưu ái cho tôi được nhận vào học tại Trường Thuộc Địa với tư cách nội trú
   Hiện nay tôi là nhân viên của hãng Chargeurs Réunis “Amiral Latouche Tréville” để mưu sinh
   Tôi hoàn toàn không có tài sản và ham muốn học hỏi. Tôi ước ao trở thành hữu ích cho nước Pháp đối với đồng bào    của tôi đồng thời có thể giúp họ lợi dụng những lợi ích của Học Vấn
   Tôi quê Nghệ An, Trung Kỳ
   Trong khi chờ đợi một sự trả lời mà tôi hy vọng là thuận lợi,                     
   Ngài hãy nhận nơi đây lòng biết ơn trước của tôi
   Nguyễn Tất Thành, sinh tại Vinh năm 1892, con trai ông Nguyễn Sinh Huy (phó tiến sĩ văn chương), học tiếng Pháp, quốc ngữ và chữ Nho

Lá đơn, đóng dấu nhận ngày 20/9/1911 bởi văn phòng Tổng thống Pháp, nằm dưới lớp bụi thời gian suốt 72 năm (1911-1983), cũng như huyền thoại ra đi tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh, đã bị lôi ra ánh sáng, gây ngỡ ngàng thích thú cho nhiều người quốc gia muốn đi tìm bằng chứng của sự thật, hoặc trong trường hợp này, của sự dối trá. Một khám phá “vĩ đại” bất ngờ, “cực kỳ” quan trọng, đã đập vỡ bức tường đen kiên cố che giấu, qua bao năm, cái lý lịch tối mò của một anh bất tài vô tướng, vô nghề, vô sản, vô gia đình, vô lý tưởng, nghèo đói, phải tha phương cầu thực, nhưng lại được bọn đệ tử cuồng tín từ Nguyễn Khánh Toàn đến Trường Chinh, từ Tố Hữu đến Phạm Văn Đồng, cùng một phường khố rách áo ôm, bồng bế tung hê và đút ống đu đủ thổi lên tận mây xanh. Hồ Chí Minh, dĩ nhiên, tưởng không ai có thể biết, đã giấu nhẹm, kể cả với những đồng chí thân tín nhất, về việc này, cho đến khi lẳng lặng vào nằm trong lăng Ba Đình, hy vọng thời gian sẽ xóa nhòa chứng tích. Đám đồ đệ ngây ngô không biết, hoặc biết mà giả vờ ngây ngô, nên cứ theo sách tự bơm của Bác (Trần Dân Tiên) mà rêu rao rằng Bác qua Pháp để trở về cứu nước thật(3). Một vài nghiên cứu gia Mỹ và Pháp, cũng biết (tại sao không?), trước cả hai ông Vũ Ngự Chiêu và Nguyễn Thế Anh, về sự hiện hữu của hai lá đơn, nhưng giữ im lặng, chờ hai ông phanh phui chúng ra(4). Đặc biệt, tác giả Pháp, Christiane Pasquel Rageau, một nữ tín đồ tôn sùng Hồ Chí Minh vô điều kiện, đã viết quyển Ho Chi Minh trong đó bà ta, mặc dù là một nhân viên tại Thư viện Quốc gia Paris có nhiều cơ hội tìm tòi, tra cứu hai lá đơn ấy, cũng đã lờ đi, không nhắc nhở(5).

Cho đến thời đại internet thì không còn gì có thể giấu dưới ánh mặt trời. Trên sách vở, báo giấy và báo Mạng, người ta thấy đầy dẫy những sao bản hai lá đơn viết tay và các thư khác của Hồ Chí Minh, kể cả những bức thư tình, những thư từ qua lại của các viên chức Pháp, những tài liệu khui ra việc Hồ Chí Minh đi Pháp kiếm ăn, và trình độ Pháp ngữ của ông ta v.v... Trong đó có tác phẩm của sử gia Trần Gia Phụng, mà theo thiển ý, được viết rõ ràng, với đầy đủ sử liệu, một cách khoa học và thuyết phục nhất(6).

1. Phản ứng của VC về lá đơn của Nguyễn Tất Thành:  

Rồi biết không thể giấu được nữa, đám đệ tử mới đây đành phải thú nhận. Nhưng do thói quen hàm hồ và ăn gian nối dối trước sự thật, bọn này vẫn cố ngụy biện, cãi chày cãi cối, về trường hợp lá đơn này, cũng như sự kiện Hồ Chí Minh có vợ, có con. Quả thực, trước những tài liệu không thể chối cãi về chuyện HCM có vợ, có con, bọn chúng mới trơ tráo lên tiếng bênh “Bác”, cho rằng đó là chuyện thường tình của con người(7). Nghe mà thấy ứa gan, muốn xài tiếng Đan Mạch cho hả giận.

Trở lại chuyện lá đơn.                                         

a) Cũng vậy. Giáo sư VC Bùi Đình Phong, chẳng hạn, ngày 3/1/2010 (gần một năm sau khi DVD “Sự thật về Hồ Chí Minh” của Nhóm Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ phát hành, tháng 7, 2009, và 27 năm sau ngày hai ông Nguyễn Thế Anh và Vũ Ngự Chiêu khám phá và công bố hai lá đơn, tháng 6, 1983) đã viết một bài có đoạn như sau: “Chúng ta hoàn toàn không giấu giếm sự kiện này. Hơn hai mươi năm trước, Giáo sư Sử học Đinh Xuân Lâm đã có bài viết với tiêu đề: “Cần làm sáng tỏ một số điểm xung quanh lá đơn xin học của Nguyễn Tất Thành năm 1911, đăng trong Tạp Chí Cộng sản, số 5-1987. Vấn đề là ở chỗ, hiện nay một số người vẫn nghĩ rằng chúng ta không công bố lá đơn này, và quan trọng hơn là nhiều người không hiểu đúng việc làm của Nguyễn Tất Thành. Còn các thế lực thù địch thì cố tình bóp méo sự thật lịch sử”(8).

Bùi Đình Phong nói láo không có căn: Lá đơn “bị” khám phá và phổ biến rộng rãi bởi hai ông Nguyễn Thế Anh và Vũ Ngự Chiêu năm 1983, và bài của Đinh Xuân Lâm đăng trong “Tạp Chí Cộng Sản” năm 1987, nghĩa là bốn năm sau, vậy mà y dám nói “chúng ta hoàn toàn không giấu giếm sự kiện này” thì con nít cũng không tin nổi. Lại nữa: ai “bóp méo sự thật lịch sử”? Chính y và đồng bọn. Sự thật nằm trong hai lá đơn còn nguyên si trong thư viện Pháp, bóp méo thế nào được?

Sau đó Bùi Đình Phong ra sức biện hộ cho chủ: “Đây là cách làm chứ không phải mục đích của Hồ Chí Minh”(9). Y hàm ý, đại khái, Hồ Chí Minh muốn học hỏi nền văn minh của Pháp để sau này về nước giúp ích cho đồng bào. Về điểm này, những tên bồi bút VC khác, như Lữ Phương, cũng hùa theo, cho rằng lá đơn của Nguyễn Tất Thành đã “phản ánh chủ trương rất rõ của Phan Chu Trinh: phải học văn hóa khai sáng và dân chủ của Pháp để canh tân đất nước”9. Lữ Phương còn viết rằng Phan Văn Trường, thuộc nhóm cụ Phan Chu Trinh, ở Paris, đã thảo lá đơn này giùm cho Nguyễn Tất Thành, và sở dĩ Thành muốn vào học trường Thuộc Địa là để “xây dựng phong trào yêu nước ngay trong lòng thực dân”9. Nghĩa là chui vào nhà địch để diệt địch! Thế đấy! Bồi bút VC đứa nào cũng mơ ngủ, hoặc mắc bệnh tâm thần. Hai “dịch giả” Diên Vỹ và Hoài An cũng đổ thừa cho cụ Phan Chu Trinh, tội nghiệp cụ, vì lúc ấy cụ đâu đã biết tên phụ bếp trên tàu Pháp ở Marseille Nguyễn Tất Thành là đứa nào đâu!(10)

Những tên bồi bút ấy đã quên một điều quan trọng: chính Thành đã tự giác, tự khai, tự tố, nghĩa là đã nói rõ bằng giấy trắng mực đen lý do khiến anh ta phải xin vào học trường Thuộc Địa, và lại còn với tư cách interne, tức nội trú, nghĩa là miễn trả tiền ăn học. Lý do rành rành ra đó: anh ta than nghèo, không có tiền sinh sống (je suis entièrement dénué de ressources). Nói nôm na, muốn kiếm cơm. Nhưng để đỡ ngượng, phải vớt vát bằng cái cớ “thanh cao”: muốn học hỏi (avide de m’instruire).

b) Nguyễn Tất Thành còn đi xa hơn. Trong cả hai lá đơn cùng một nội dung ấy có một câu rất quan trọng mà những người quốc gia chúng ta đã phải vất vả mở mắt cho những tên bồi bút VC thấy, mà bọn chúng vẫn giả mù sa mưa, không (muốn) thấy. Đó là câu: “Tôi ao ước trở thành hữu ích cho nước Pháp đối với đồng bào của tôi...” (Je désirerais devenir utile à la France vis à vis de mes compatriotes) [sic].

Thế này là thế nào? Trường Thuộc Địa (École Coloniale), như tên gọi, là một trường chuyên môn có mục đích đào tạo những học viên từ các nước bị đô hộ (Đông Dương, Phi Châu) để sau này về bản xứ trở thành những quan chức hữu ích cho thực dân Pháp, nghĩa là phục vụ mẫu quốc(11), cũng như École Normale đào tạo những giáo sư dạy cấp trung học, và ENA (Ecole nationale d’administration) là trường đào tạo cán bộ hành chánh. Còn nếu muốn học để hấp thụ học thuật, văn minh của Pháp –điều mà bọn bồi bút VC vẫn dựa lên để cắt nghĩa việc anh ta xin vào École Coloniale– Nguyễn Tất Thành phải làm đơn xin vào những trường khác, thiếu gì. Viết câu trên cho Tổng thống và Bộ trưởng Bộ Thuộc Địa Pháp, rõ ràng Thành nuôi mộng làm quan cho Pháp, mà làm quan là để hưởng bổng lộc, vinh hoa phú quý, là đè đầu đè cổ dân lành, giống như cha của anh ta trước kia (cho nên mới có câu “vis à vis de mes compatriotes”). Nếu không làm quan trong tương lai mà muốn “trở thành hữu ích cho nước Pháp” thì còn cách nào đây? Vô lẽ đăng lính khố xanh, khố đỏ?
Biết rõ như thế, cho nên Bùi Đình Phong đã láu cá, cố tình lờ ba chữ à la France (đối với nước Pháp) để dịch ăn gian, lừa bịp người dân và lũ đảng viên trong nước không có cơ hội đọc nguyên bản và một số thân Cộng hải ngoại, phần đông là trí thức, nhưng u mê, hoang tưởng, hoặc già lú lẫn, như sau: “Tôi muốn sẽ trở nên có ích đối với đồng bào của tôi...”. Dịch như vậy, câu đó hoàn toàn có nghĩa khác, không làm ai thắc mắc, đáng khen là đàng khác. Và cùng với nhiều nhà nghiên cứu VC khác, Bùi Đình Phong vẫn mặt trơ mày bóng, gân cổ cãi, lại còn đem tên sử gia Pháp thân Cộng Daniel Hémery11 ra làm con ngáo ộp: “Sự thật rõ như ban ngày mà những kẻ nuôi dụng tâm xấu vẫn ác ý cố tình xuyên tạc. Để hiểu rõ hơn về lá đơn, hãy đọc Êmơri (Daniel Hémery) – một nhà sử học Pháp chuyên nghiên cứu và giảng dạy lịch sử cận-hiện đại Việt Nam tại Trường Đại học Pari [sic] VII, trong bài viết: “Về lá đơn xin vào học Trường Thuộc địa năm 1911 của người thanh niên Hồ Chí Minh”. Êmơri khẳng định: “Tuyệt đối không thể căn cứ vào lá đơn xin học năm 1911 để gán ghép cho Nguyễn Tất Thành ý định sau khi học xong sẽ trở thành người cộng tác với chính quyền thuộc địa”(12). Vì y không cho biết xuất xứ câu và bài viết của Hémery (đăng ở đâu, khi nào, nguyên văn) hoặc y có thể phịa ra, hoặc cố tình dịch sai, chúng ta không cần bàn thêm.

2. Trình độ Pháp ngữ trong lá đơn:

Ai cũng biết lá đơn của Nguyễn Tất Thành bị bác và Bộ Thuộc Địa lấy cớ là những thí sinh phải được Phủ Toàn quyền Đông Dương giới thiệu và gửi sang, nghĩa là anh bồi tàu Nguyễn Tất Thành đã muốn làm quan tắt bằng cách nộp đơn tắt. Sau đó Thành phải nhờ người anh làm ở Toà khâm sứ Pháp can thiệp, nhưng không thành công(13).

Đó là một cách nói. Sự thật có lẽ khác, hoàn toàn chỉ dựa trên khả năng Pháp ngữ hạn hẹp của Nguyễn Tất Thành, một người chưa học lên bậc trung học. Trong khi đó, bọn đệ tử bồi bút, như Ngô Trần Đức và Lê Công Thành, không tiếc lời ca tụng trình độ Pháp văn và các ngoại ngữ khác của “Người” (tức Nguyễn Tất Thành, Hồ Chí Minh) mà bọn họ cho là siêu tuyệt, bởi lý do [rất buồn cười] “Người” đã học tiếng Pháp ở cấp primaire (tiểu học) và làm việc trên tàu buôn Tây và hằng ngày nói chuyện bằng tiếng Tây [NLGO : bồi, dĩ nhiên] với những anh bồi đồng nghiệp(14). Ngược lại, những độc giả và sử gia hải ngoại đều thấy rõ trình độ Pháp ngữ của Nguyễn Tất Thành trong lá đơn là rất kém. Nhưng chưa ai phí thì giờ phân tích nó kém ở chỗ nào(15).

Tôi xin phép được mạo muội dẫn chứng:    

Hai lá đơn sai đủ thứ lỗi (hoặc vấn đề không ổn trong cách viết đơn, chưa hẳn là lỗi) lớn, nhỏ, khác nhau (10 cho lá đơn gửi tổng thống, 12 gửi bộ trưởng). Những chữ viết xiên là do tôi, cốt nêu rõ các lỗi hoặc vấn đề.

Marseille le 15 Septembre(a)  1911
Monsieur le Président de la République(b)
J’ai l’honneur de solliciter de votre haute bienveillance la faveur d’être admis à suivre les cours de l’Ecole Coloniale comme interne
Je suis actuellement employé(c) à la Compagnie des Chargeurs Réunis “Amiral Latouche Tréville”(d) pour ma substance(e)
Je suis entièrement dénué de ressources et avide de m’instruire(f). Je désirerais devenir utile à la France vis à vis (g) de mes compatriotes et pouvoir en même temps les faire profiter des bienfaits de l’Instruction
Je suis originaire de la province de Nghê An, en Annam
En attendant une réponse que j’espère favorable, agréez(h), Monsieur le Président, l’assurance de ma reconnaissance anticipée
Nguyễn Tất Thành, né à Vinh en 1892, fils de Mr. Nguyễn Sinh Huy (sous-docteur(i) es-lettres(j)  Etudiant français, quốc ngữ, caractères chinois(k)

(a) Đúng theo phép viết đơn, phải có dấu phẩy sau Marseille. Không viết hoa tên tháng (cf. Le Secrétaire Idéal, Elisabeth Lange, Marabout Service, 1970, tr.150)
(b) Viết Monsieur le Président đủ rồi. Sau Président phải có dấu phẩy.
(c) employé: thường có nghĩa nhân viên văn phòng, khác với tay chân (ouvrier), ví dụ employé de banque. Có thể Nguyễn Tất Thành không hiểu nghĩa, hoặc hiểu, mà cố tình mập mờ đánh lận con đen, vì nếu viết thẳng aide-cuisinier (phụ bếp), chức vụ chính thức, sẽ ảnh hưởng đến việc xin học.
(d) Tên chiếc tàu không được để trong ngoặc kép.
(e) Lỗi (nặng) về dùng chữ: phải viết subsistance (sinh sống, sinh nhai) thay vì substance (chất, bản thể). Lỗi này được thấy trong cả hai lá đơn, nên không thể gọi là lỗi vô ý. Trong tờ đơn gửi Bộ trường Thuộc Địa, người ta còn đọc: ... pour ma substance à soi de l’Amiral Latouche Tréville. Vô nghĩa. Nguyễn Tất Thành muốn nói gì trong“substance à soi”?
(f) Cách hành văn: “entièrement dénué” và “avide” về lời và ý không đi với nhau bởi conjonction (liên từ) et, cho nên muốn viết cho xuôi tai, người ta phải lặp lại je suis. “Je suis entièrement dénué de ressources et je suis avide de m’instruire”, và liên từ et trong vế thứ hai của câu và mạch văn hàm ý nhưng (mais), hơn là và. Trường hợp dùng liên từ mais, thì không cần lặp lại je suis: “Je suis entièrement dénué de ressources, mais avide de m’instruire”.
(g) Lỗi chánh tả: vis-à-vis (có hai gạch nối)
(h) Lỗi (nặng) về văn phạm: Khi dùng gérondif (en + participe présent) En attendant... , trong trường hợp này, chủ từ của động từ chia (= động từ chính) phải là je (= tôi), ngôi thứ nhất, nhưng Nguyễn Tất Thành đã dùng agréez (= ông hãy chấp nhận, mode impératif, mệnh lệnh cách), ở ngôi thứ hai, là sai. Vì người chờ đợi câu trả lời (en attendant une réponse) là “tôi”, chứ không phải “ông”. Phải viết lại: “En attendant une réponse [...] je vous prie d’agréer ...”, tương tự câu tiếng Anh: “While waiting for your answer, I request that you accept...” chứ không phải “While waiting for your answer, accept...”
(i) sous-docteur : chữ này không có trong ngữ vựng Pháp. Phó bảng, trong chế độ thi cử xưa, có nghĩa tiến sĩ đậu vớt (repêché, inscrit au deuxième tableau). Dù vớt hay không, vẫn là tiến sĩ, nghĩa là có thể dịch: docteur mà không sợ mang tiếng “ăn gian”. Nguyễn Tất Thành không biết điều này.
(j) Lỗi chánh tả: ès lettres (è chứ không phải e, và không có gạch nối)
(k) Etudiant: Tại sao không viết thành một câu cho nó đường hoàng? Viết kiểu này, quả thật, là kiểu tiếng Tây bồi... tàu, nghĩa là ráp chữ. Nếu étudiant là một danh từ (nom) thì phải có en, (étudiant) en (français), v.v... Nhưng Nguyễn Tất Thành chưa bao giờ là étudiant (sinh viên đại học) thì chữ này phải hiểu là một động từ. Và nếu là một động từ dùng ở hiện tại phân từ (verbe au participe présent, nhưng tại sao phải dùng mode participe ở đây?) có nghĩa j’étudie, j’ai étudié, thì phải viết (étudiant le français), v.v...

Chưa kể trong đơn gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc Địa có thêm hai lỗi nữa:

     1) thay vì désirerais, anh viết sai désirérais (không phải é mà e).
     2) cuối đơn có câu “mes plus respectueux hommages” (= sự tôn trọng đầy kính trọng nhất của tôi), nghe không ổn: trong hommage tự nó hàm chứa respectueux rồi, thêm respectueux không cần thiết. Mà nếu muốn thêm cũng được, nhưng nên bỏ superlatif  “(mes) plus”, quá dư, quá đáng: mes respectueux hommages. Hoặc viết mes hommages không thôi, cũng đủ lắm rồi.

Viết một lá đơn bằng tiếng Pháp ngắn như thế và nhiều lỗi, khuyết điểm như thế cho các viên chức cao cấp nhất của nước Pháp thì bị từ chối là phải, oan ức nỗi gì? Nguyễn Tất Thành bồi tàu và bọn đệ tử bồi bút cần nhớ rằng người Pháp là chúa kỳ thị về ngôn ngữ và gia thế (không phải về màu da, chủng tộc như ở Mỹ), và thi tuyển vào học các trường của Tây, dù ở Việt Nam và dù trả tiền, không phải dễ, nhất là vào thời Nguyễn Tất Thành, lại còn xin học nội trú, giống như học bổng bây giờ, càng khó gấp bội. Điều kiện tiên quyết, vô cùng quan trọng, là phải giỏi tiếng Pháp (như Phạm Quỳnh, Ngô Đình Nhu), có bằng cấp do Pháp cấp hay giấy tờ chứng minh học lực, và phải là con ông cháu cha, giàu có... Dù là con một ông quan huyện (tiến sĩ Hán học, phạm tội đánh chết tù nhân và bị cách chức), một anh phụ bếp nghèo trên một chiếc tàu buôn Pháp mà đòi xin học trường đào tạo các quan lại tương lai phục vụ chế độ thực dân, thì tôi không tin trong lịch sử đô hộ tại Việt Nam đã xảy ra một trường hợp nào mà người Pháp rộng lượng hoặc đặc cách chấp nhận như thế. Nguyễn Tất Thành nghèo mà ham, cứ tưởng bở, và các đệ tử tẩu hỏa nhập ma của anh ta không hiểu gì hết, tha hồ múa mép, nói hươu nói vượn.

3. Thay cho lời kết:

Việc Nguyễn Tất Thành xin học vào trường Thuộc Địa, per se, tự nó, không có gì là xấu, trái lại có thể rất tốt. Quả thế, theo tài liệu của sử gia Vũ Ngự Chiêu (Chú thích 1, ở dưới), một số nhân vật nổi tiếng ở Việt Nam một thời như các ông Bùi Quang Chiêu, Phan Kế Toại, Trần Trọng Kim v.v... cũng từng là học viên của trường ấy. Tuy nhiên, điều làm người ta khó chịu, bực mình, khiến phải cất công đi tìm, moi ra cho bằng được sự thật, nằm trong hai lá đơn của Hồ Chí Minh, đó là thái độ xu nịnh và luận điệu xuẩn động, ngông cuồng của bọn đệ tử ông Hồ, trước kia và bây giờ, vừa ngu dốt vừa lố bịch vừa ngoan cố. Lúc trẻ, ông ta qua Pháp để kiếm ăn, thực sự và rõ ràng, chứ chẳng phải tìm đường cứu nước cứu non gì ráo, như những cái đầu mê sảng kia đã bịa đặt, rêu rao. Và huyền thoại Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước được bọn cuồng tín và cả chính Hồ Chí Minh, một tên đại bịp, đại gian, đại ác, dựng nên để bảo vệ sự nghiệp của ông ta, của Đảng và bộ hạ. Giữa năm 2011, Nguyễn Tấn Dũng, tên cựu du kích xã, thủ tướng thuộc loại chó nhảy bàn độc, vừa được đồng bọn tái phong chức, đã đọc trước Quốc Hội bù nhìn bài diễn văn trong đó vẫn còn cái câu mà bọn chúng không ngớt nhai đi nhai lại như những con vẹt ngu ngốc từ năm này qua năm khác: “Chúng ta phải luôn học tập lời dạy và noi gương của Bác Hồ vĩ đại, vô vàn kính mến...” Không đứa nào dám bỏ Bác ra, kể cả những anh, những chị phản tỉnh cuội tại Paris, như Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Dương Thu Hương...  Bỏ Bác ra, bọn chúng chỉ là rắn mất đầu, dù cái đầu đã bị đồng bào hải ngoại đập giập từ khuya. Cho nên cái xác của Bác phải được giữ mãi trong lăng, mặc dầu đã thối rữa, để hễ có dịp mang ra hù dọa, nhắc nhở đồng bào và đảng viên.  

Việc Nguyễn Tất Thành, alias Hồ Chí Minh, làm đơn xin học trường Thuộc Địa để sau này ra làm quan cho Tây, nhưng bị từ chối, phải đi lêu bêu kiếm sống tại London, tại Paris, và gia nhập Đệ tam Cộng sản Quốc tế, rồi về nước du nhập một thứ chủ nghĩa Cộng sản quái thai, quái vật, quái đản, và một thứ văn hóa bần cố nông, tiêu diệt những giá trị trí thức nhân bản và truyền thống, gieo bao nhiêu thảm họa cho con người, thú vật, cỏ cây và giết hại bao nhiêu sinh linh của nước Việt Nam tội nghiệp, những người duy tâm cho đó là sự an bài của Trời, và những người theo phái khắc kỷ chấp nhận như vận nước. Còn tôi, thực tế hơn, lại oán giận hai ông Tổng thống và Bộ trưởng Thuộc Địa Pháp. Đơn của Nguyễn Tất Thành dù có kém, sai lỗi thì hai ông cũng nên châm chước, nhắm mắt cho anh ta vào học đại đi, cứ cho anh ta nuôi mộng làm quan đi, mất mát gì, được như vậy thì anh ta đã chẳng phải gia nhập đảng Xã Hội, rồi đảng Cộng sản Pháp, không sang Nga, không sang Tàu, không trở về Việt Bắc, chui rúc ở hang Pắc Pó hôi thối, nằm tự thêu dệt những huyền thoại lố bịch, kêu gào đánh cho Tây cút Mỹ nhào, và hôm nay nhân dân Việt Nam đã đỡ khổ xiết bao và nhớ ơn hai ông biết chừng nào. Bây giờ thì trễ quá rồi, hai ông ơi, và trời ơi!

Nhờ các sách báo của những người quốc gia chống Cộng, nhất là DVD về Huyền Thoại Hồ Chí Minh của Nhóm LM Nguyễn Hữu Lễ, sau sự phát giác về lá đơn của Nguyễn Tất Thành bởi hai sử gia Nguyễn Thế Anh và Vũ Ngự Chiêu, những mảng đá trên bức tường huyền thoại nhớp nhúa ảo tưởng về thân thế và sự nghiệp, kể cả tập thơ con cóc ăn cắp16, của Bác, đã lần lượt rơi vỡ tan tành. Vậy mà vẫn chưa hết. Đó là việc Nguyễn Tất Thành đã từng là thành viên của Hội Tam Điểm Pháp (la franc-maçonnerie française, thù nghịch với đảng Cộng sản Quốc tế  –điều mà sử gia Trần Gia Phụng đã tiết lộ, nhưng chưa có tên học giả VC nào lên tiếng) và bức hình Nguyễn Ái Quốc đứng đọc diễn văn trong Đại hội Tours tháng 12, 1920 (mà VC vô cùng hãnh diện) là giả mạo, những việc đó, tôi tin chắc bọn đệ tử VC trong và ngoài nước chưa đứa nào biết, hoặc biết mà vẫn cố bưng bít.

Nhưng đó là chuyện khác, mà tôi sẽ đề cập trong những lần sau, nếu có thì giờ. Chúng ta phải tiếp tục phá vỡ thần tượng Hồ Chí Minh, nếu muốn tiêu diệt chủ nghĩa CS vô luân còn sót lại chỉ trên bốn nước của hành tinh này, mà Việt Nam khốn khổ là một.

Chú thích:

1. Trong cuộc phỏng vấn sử gia Vũ Ngự Chiêu về công trình nghiên cứu lịch sử liên quan đến Hồ Chí Minh (Thứ sáu, 5 tháng 11, 2010) do Nguyễn Vĩnh Châu thực hiện, ông Vũ Ngự Chiêu cho biết:


“Ðầu tháng 2/1983, khi làm việc trên kho tài liệu trường Ecole coloniale, tức học hiệu huấn luyện các viên chức thuộc địa Pháp, trên đường Oudinot, quận 7, Paris, tôi vô tình khám phá ra nhiều hồ sơ học viên người Việt tại học hiệu này, như Bùi Quang Chiêu, Ðèo Văn Long, Phan Kế Toại, Trần Trọng Kim, Lê Văn Miễn v.v... tổng cộng khoảng 97 người (CAOM (Aix), Ecole Coloniale, cartons 27, 33 & Registers). Mục đích của tôi là tìm hiểu về những viên chức thuộc địa Pháp cùng thế hệ Tây học Việt Nam đầu tiên (ngoài những người tốt nghiệp các lớp huấn luyện ở các tu viện như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trường Tộ, v. v...) để dùng cho chương Biến đổi văn hóa và xã hội của luận án Tiến sĩ. Thật vô tình, tìm thấy tập hồ sơ xin nhập học nhưng không được chấp nhận của Nguyễn Tất Thành, tức HCM sau này, cùng một người bồi khác được chủ Pháp mang về Paris. Ngoài hai lá thư viết tay gửi Tổng thống Pháp và Bộ trưởng Thuộc Ðịa, đề ngày 15/9/1911 tại Marseille, còn thêm ba tài liệu của Hội đồng quản trị trường. Trong biên khảo tam ngữ Một ngôi trường khác cho Nguyễn Tất Thành (Paris: 1983) tôi đã trình bày khá rõ: Người mà chúng ta biết như HCM sau này đã rời nước không vì muốn tìm đường cứu nước, mà chỉ vì những tao ngộ bản thân (cha bị cách chức, tống giam, nên phải bỏ học nửa chừng, v. v...). Từ cổng hậu đóng kín của trường Thuộc Ðịa, HCM sẽ tìm thấy cánh cửa mở rộng của Ðại Học Phương Ðông của Liên Sô Nga 12 năm sau.

Năm 1991, trong tập Vàng Trong Lửa, hai Giáo sư Trần Văn Giàu và Trần Bạch Ðằng đã nhắc đến tập sách nhỏ này, nhưng không nêu tên tác giả Vũ Ngự Chiêu và Nguyễn Thế Anh. Nên thêm rằng sử gia Nguyễn Thế Anh đồng ý viết chung với tôi tập sách trên, cũng như phổ biến các tài liệu trên tờ Ðường Mới, nhưng ông Anh không phải là người phát hiện những tài liệu trên. Ít tháng sau, khi tôi đang làm việc ở Aix-en-Provence, Nguyễn Thế Anh cho tôi biết hai sử gia Pháp, tức Hémery và Brocheux, tuyên bố họ đã khám phá ra tài liệu này từ trước. Tôi chẳng mấy quan tâm. Vấn đề là tại sao Hémery và Brocheux không công bố các tài liệu trên trước chúng tôi (vào mùa Hè 1983)? Và những người làm phim truyền hình chiến tranh VN cũng sử dụng tài liệu trên. Một số học giả Mỹ cho rằng khi công bố tư liệu trên, tôi đã có ý muốn discredit HCM. Nhưng sự thực lịch sử chỉ là sự thực lịch sử. Ðáng trách chăng là thái độ thiếu nghiêm chỉnh và lương tâm nghề nghiệp của một số học giả (kể cả William A. Williams). Vì tư tâm hay một lý do nào đó, họ đã gạt bỏ những tư liệu đi ngược lại lập luận và diễn dịch của họ. Ðiều này ảnh hưởng không ít đến công trình nghiên cứu của tôi. (...)

Thật khó tin, nhưng có thực, là một số sách dùng dạy sử cho các lớp năm thứ nhất hay thứ hai đại học Mỹ vẫn còn ghi HCM đã rời nuớc năm 1912 để tìm đường cứu nước. Có người còn tuyên bố chẳng cần tìm hiểu thêm về HCM, dù tác phẩm của họ chứa đầy những lỗi lầm sơ đẳng về Ðảng CSVN. 'As far as the Americans are concerned', người ta nói, ngần ấy kiến thức về HCM đã quá đủ. 'Life goes on!'"

2. Những chi tiết đó là: “substance à soi”, “mes plus respectueux hommages”.

3. Đọc Lịch sử Việt Nam, tập 2, Ủy ban Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1985, do Nguyễn Khánh Toàn chủ biên; Chủ Tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, do Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương biên soạn, in lần thứ tư, nxb Sự Thật, 1975; Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chí Minh, Trần Dân Tiên (tức HCM), nxb Sự Thật, Hà Nội, 1976.

4. Xem chú thích 1, ý kiến của Vũ Ngự Chiêu, đoạn cuối.                                                 

5. Christiane Pasquel Rageau, Ho Chi Minh, Editions Universitaires, 1970, trong Collection Les Justes.

6. Trần Gia Phụng, Những câu chuyện Việt sử, tập 2, Toronto, 1999, tr.306-319: “Huyền thoại ra đi tìm đường cứu nước”, Việt sử đại cương, tập 4 (1884-1945), nxb Non Nước, Toronto, 2008, tr. 380-424: Nguyễn Ái Quốc: “Vì chủ đích kiếm sống chứ không có chủ đích chính trị, Nguyễn Tất Thành liên tục thay đổi thế đứng chính trị, tìm cơ hội tiến thân. Xin vào học trường Thuộc Địa (Paris) không được, ông theo những nhà chính trị dân tộc Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường. Từ lập trường dân tộc, ông vào đảng Xã Hội Pháp. Từ đảng Xã Hội, ông gia nhập đảng Cộng Sản Pháp, dầu ông tự nhận rằng ông không hiểu chủ nghĩa CS là gì? Đang ở trong đảng CS Pháp, ông qua hội Tam Điểm, một tổ chức đối nghịch với đảng CS. Đang là thành viên Tam Điểm, Nguyễn Tất Thành được đại diện ĐTQTCS tuyển chọn để đưa sang Nga vào tháng 10-1922, ông liền chấp nhận ngay việc tuyển chọn này và bỏ hội Tam Điểm” (404).

7. cf. Trường Lam, trong “Bác Hồ của chúng ta”, Talawas Bloc, 24/32010: “Những năm gần đây có nhiều người nói hoặc viết rằng Bác Hồ có con... Đối với cá nhân tôi và có lẽ của đông đảo người dân Việt ta, đó là điều đáng mừng. Một con người kiệt xuất mà từ giã cõi đời không để lại cho hậu thế tí di duệ nào khiến ai chẳng cảm thấy đau lòng? [...] Hãy để Bác mãi mãi vĩ đại mà giản dị giữa lòng dân tộc, giữa những tâm hồn Việt Nam, trong sự kính yêu của những người dân Việt Nam”.  OK. Nhưng vấn đề không nằm ở chỗ sinh lý bình thường ấy, cái tệ hại khốn nạn của Hồ Chí Minh là: (1) chấp nhận được thần thánh hóa bởi bộ hạ, đóng vai một tên đạo đức giả trọn đời độc thân để có thì giờ chăm lo việc nước, (2) ông ta đã không bao giờ nhìn nhận những đứa con rơi, thậm chí còn thủ tiêu một trong những người mẹ (Nông Thị Xuân), và những con rơi này không dám nhìn nhận ông ta là cha (Nguyễn Tất Trung, Nông Đức Mạnh) - lấy cả người yêu của đồng chí (Nguyễn Thị Minh Khai), thay vợ như thay sơ-mi.

8. Bùi Đình Phong, bài đăng ngày 3/1.2010 trong mục Hồ Chí Minh toàn tập, Tác phẩm Hồ Chí Minh tiêu biểu.

9. Xem thêm Đinh Xuân Lâm, Góp phần tìm hiểu cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh, nxb CTQG, 2005, tr. 273, 275. Lữ Phương, “Từ Nguyễn Tất Thành đến Hồ Chí Minh”, trong tủ sách Talawas, 26.1.2007. Diên Vỹ và Hoài An, Hồ Chí Minh: Những năm tháng chưa được biết đến, dịch từ quyển Ho Chi Minh: The Missing Years của Sophie Quinn Judge, đăng trong Thư mục: Hồ Chí Minh, ngày 23-8-2009.

10. Trần Gia Phụng, Việt sử đại cương, tập 4, sđd, tr. 409, chú thích 13.

11. Daniel Émery, Ho Chi Minh, de l’Indochine au Vietnam, Paris, Gallimard, 1990  

12. Bùi Đình Phong, xem chú thích 8.

13. Trần Gia Phụng, Việt Sử Đại Cương, sách đã dẫn, tr. 384: “Tại Sàì Gòn, Nguyễn Tất Thành gởi thư đề ngày 31-10-1911 cho anh là Nguyễn Tất Đạt  (Cả Khiêm hay Khâm), đang làm việc tại Tòa khâm sứ Pháp tại Huế, và nhờ anh vận động xin cho Thành vào học Trường Thuộc địa”.

14. Ngô Trần Đức, “Về những bài viết ký tên Nguyễn Ái Quốc tại Pháp từ 1919 đến 1923” (Trao đổi lại với Thụy Khuê), đăng trên internet: “Vấn đề cần làm rõ là vào thời điểm đó, khả năng tiếng Pháp của anh Thành đã đạt tới trình độ nào? Theo tiểu sử, chúng ta biết khi ở trong nước, anh Thành đã vào học trường Quốc học Huế, đã hoàn thành chương trình lớp cao đẳng (cours supérieur). Trong lời khai với sở mật thám Huế ngày 19-3-1920, ông Nguyễn Tất Đạt cũng nói rõ: “Il obtint son certificat d’études primaires en 1908 et  fut admís au Quôc Hoc”. Khi ra nước ngoài,  anh Thành làm việc trên tàu viễn dương cho các hãng Chargeurs Réunis rồi hãng Messageries Maritimes (Năm Sao) đều là các hãng vận tải biển của Pháp, chỉ chuyên nói tiếng Pháp. Tại Marseille ngày 15 tháng 9 năm 1911, anh Thành đã viết đơn bằng tiếng Pháp, gửi Tổng thống Cộng hòa Pháp, xin vào học Trường Thuộc địa, cuối thư có nói rõ: biết tiếng Pháp, quốc ngữ và chữ Hán. Tiếp theo, tại Sài Gòn ngày 31 tháng 10 năm 1911 và tại New York ngày 15 tháng 12 năm 1912, anh Thành đã gửi hai bức thư cho Khâm sứ Trung Kỳ, một bức nhờ chuyển cho cha một ngân phiếu 15 $, một bức cho biết đã gửi cho cha là Nguyễn Sinh Huy 3 ngân phiếu nhưng mới chỉ nhận được một thư trả lời; thư tỏ ý muốn được biết địa chỉ và tình hình cha mình hiện nay sống ra sao. Những bức thư này được viết bằng tiếng Pháp với một cách diễn đạt gãy gọn, trong sáng và chuẩn xác về chính tả-ngữ pháp, chứng tỏ người viết đã có một trình độ vững vàng về tiếng Pháp. Thời gian đầu sang Anh, trong một lá thư gửi Phan Châu Trinh, anh viết: “Mấy bốn tháng rưỡi nay thì chỉ làm với Tây, nói tiếng Tây luôn. Tuy ở Anh nhưng chẳng khác gì ở Pháp”. Điều đó cho thấy việc học nói và viết tiếng Pháp của anh Thành là một quá trình liên tục, vì vậy khi trở lại Paris, anh đã có thể nói và viết tiếng Pháp thông thạo, đó là điều dễ hiểu. Các mật vụ người Việt có nhiệm vụ theo dõi anh đều có báo cáo giống nhau, như mật báo của Đốc phủ Bảy (mật danh là Edouard) viết: “Anh ta nói được tiếng Anh và tiếng Pháp thông thạo, biết ít tiếng Đức và tiếng Trung Quốc”. Một nhà báo Mỹ đã phỏng vấn anh và đăng bài đó trên tờ Yi Che Pao, xuất bản ở Thiên Tân, số ra ngày 2-9-1919, đã xác nhận “Nguyễn Ái Quốc nói tiếng Pháp rất giỏi” (parle admirablement le français). Xem thêm Lê Công Thành,  trong bài “Bác Hồ và nước Việt Nam” (trên internet, 4/6/2011) đã bơm Bác như sau: “Bác là một nhà chính trị lỗi lạc, đồng thời là một nhà báo, một nhà thơ, biết vẽ, biết đóng kịch và thấu hiểu các nền văn hóa kinh điển, lãng mạn và hiện đại, nói được nhiều ngoại ngữ của các dân tộc trên thế giới. Bác luyện cả võ công”.

15. Trần Gia Phụng, Việt Sử Đại Cương, sđd, tr. 386: “Theo tài liệu của đảng CSVN, từ năm 1921, Nguyễn Ái Quốc khởi viết Bản án chế độ thực dân Pháp (xb ở Pháp năm 1925). Tuy nhiên, trong tờ trình của viên chánh kiểm soát quân đội và người Đông Dương tại Pháp, gởi toàn quyền Đông Dương ngày 12-9-1923, nói về việc Nguyễn Ái Quốc viết và nói tiếng Pháp, y đã viết như sau: “...Những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc không phải do ông ta viết... Người Việt Nam ấy [Nguyễn Ái Quốc] chưa đủ khả năng nói và viết tiếng Pháp trôi chảy...” Riêng về hai lá đơn, Trần Gia Phụng viết trong Những câu chuyện Việt Sử, tập 2, sđd, tr. 308: “Không kể việc đúng sai về từ ngữ, văn phạm...”.  Nguyễn Văn Chức, trong bài “Hồ Chí Minh & Đảng CSVN” trên báo “Thế Giới Ngày Nay”, số 197, tháng 3-4, 2007, tr. 11: “Tiếng Pháp trong lá đơn xin học của Nguyễn Tất Thành quá kém...”

16. “Huyễn Thoại hay Huyền Thoại” (Hội Văn Hóa Việt phỏng vấn Gs Lê Hữu Mục về HCM, bài của Tinh Vệ, Diệu Tần, 22 Jun 2003, ghi chú thêm 10 Jan 2007): “Ngoài khoảng trên 20 tựa sách, những bài diễn văn, bài báo, ông đã viết cuốn "Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục Trung Nhật Ký" (1989-90) gây nhức nhối cho Cộng sản Việt Nam (CSVN). Cuốn sách này ông ra sức tập trung ý chí và khả năng hoàn thành chỉ trong một tháng. Sở dĩ ông phải viết nhanh như vậy để kịp phá vỡ huyền thoại HCM, "Nhân vật Văn hóa Quốc tế mà Tổ chức UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc) dự định tôn vinh. Ðây là chuyện cũ, nhưng cho đến bây giờ vẫn là mới cần nhắc lại để dẹp cái phao xẹp "Tư tưởng Hồ Chí Minh" mà nhóm bạo quyền cố bám vào để tàn Dân hại Nước. Với phương pháp dùng textology (văn bản học), hệ thống hóa lại, tìm ra những mâu thuẫn và sai lầm rất vững vàng, tác giả đã minh chứng rằng : HCM là kẻ đạo văn (đạo = ăn cắp, ăn cắp văn người khác). Chúng ta đã biết người CS dùng bất cứ phương tiện nào dù xấu xa, vô nhân, vô đạo, vô luân nhất để đạt đến mục tiêu. Mượn đầu heo nấu cháo, lợi dụng xương máu Dân lành để nhận công của đảng mình chưa đủ, họ còn muốn làm Anh hùng Văn hóa Quốc tế nữa. Nhóm bồi bút Viện Văn Học Hà Nội dựa trên sự mạo nhận của HCM, ăn cắp văn của người khác, để thổi phồng tập thơ nhật ký lên một cách lố bịch và trơ trẽn”.


Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2019

"Mệnh Trời" (sic) !!!



Thương chiến Mỹ - Trung và 'biểu tình đường phố' ở Hong Kong dễ làm người ta quên đi một cuộc chiến đã từ lâu, từ vài nghìn năm trước.
Đó là trận Mục Dã (Battle of Muye) vào năm 1046 trước Công nguyên), khi Chu Vũ Vương đánh thắng vua Trụ của nhà Thương.

Nhưng trước cuộc chiến này, người tiền nhiệm của Chu Vũ Vương là Văn Vương đã có chiến dịch tuyên truyền chống lại Thương.

Ông vua này nghĩ ra thuyết Thiên Mệnh (天命 -Tianming), dùng khái niệm Thiên (Trời), thay thế Thượng Đế, vị thần của nhà Thương.

Trời mang tính triết lý trừu tượng hơn, ảo hơn một ông Thượng Đế nhân cách hóa nào đó.

Chiến thắng của Vũ Vương được nhà Chu coi là bằng chứng rằng Mệnh Trời đã về tay họ để lên thay nhà Thương nắm ngôi Hoàng đế.

Không chỉ dừng ở đó, thuyết Mệnh Trời (Mandate of Heaven) đã thống trị tư tưởng chính trị và quan hệ quốc tế của Trung Hoa từ nhà Chu đến nay.

Nó gồm bốn phần cơ bản và mỗi điểm là một nguyên tắc của logic quyền lực:
  1. Trời trao cho vị quân vương quyền lực (tính chính danh)
  2. Trời chỉ có một nên Đất chỉ có một thiên tử (tính duy nhất);
  3. Vua sống đạo đức thuận mệnh trời thì được cầm quyền (tính luân lý);
  4. Quyền làm vua không giới hạn vào một triều đại (tính liên tục).
Phải nói rằng thuyết Thiên Mệnh là một tư tưởng cách mạng, đưa nhà Chu vượt lên các cuộc tranh giành, chém giết man rợ giữa các bộ lạc và dòng tộc thời đó.

Nó đã tạo sự bền vững cho các triều đại Trung Hoa qua nhiều nghìn năm.

Thiên Mệnh khác thuyết về 'ân sủng thần tính' (divine blessing) châu Âu dùng trong kỷ nguyên Thiên Chúa Giáo để củng cố quyền lực cho vua chúa.

Vì thuyết về quyền lực đến từ thần 'divine rights' ở châu Âu còn dựa trên tín điều của tôn giáo.

Không được giáo hoàng của Công giáo La Mã, hoặc các giáo chủ Tin Lành, Phúc Âm sau này như ở Anh và các nước Bắc Âu ban phước thì vua chưa thành vua.

Phe 'thần quyền' châu Âu nhân danh Chúa Trời ban 'ân sủng' từ đấng tối cao cho 'phe cầm quyền' trong lễ lên ngôi.
Còn với Thiên Mệnh, tự hoàng đế Trung Hoa đã là 'con trời', nhận mệnh cầm quyền trực tiếp từ trên ban xuống, không cần trung gian.

Thế quyền và thần quyền là một, và tập trung vào một người.

Nhưng thuyết Thiên Mệnh ngay từ đầu đã mắc bệnh nói dối.

Khi nhà Chu mới chỉ làm vua, chưa làm đế, thì họ cũng chẳng có gì hơn Thương, mà Thương xét ra cũng chỉ là một trong rất nhiều lực lượng.

Lãnh thổ Thương và Chu kiểm soát nằm ở lưu vực Hoàng Hà, bên cạnh còn có nhiều bộ tộc khác.

Văn minh Trung Hoa thời Thương, Chu cũng chưa lan tới vùng hạ lưu Dương Tử, nơi đã có các vua chúa địa phương khác nắm quyền.

Nhận mình làm chủ toàn bộ Thiên Hạ, "phần dưới bầu trời" quả là tham, ai cũng thấy.

Vì thế, để phù hợp với nguyên tắc số 2 và 3 (xem ở trên), nhà Chu đã tạo ra huyền thoại về nhà Hạ, cho rằng Hạ đã cầm quyền cả nghìn năm trước nhà Thương.

Nhờ kịch bản này, việc chuyển quyền từ Hạ sang Thương rồi Chu mới hợp lý, mang tính liền lạc và duy nhất.

Tóm lại, việc soạn ra thuyết Thiên Mệnh ngay từ đầu đã vấp phải hai vấn đề: vẽ lại lịch sử và lãnh thổ mơ hồ.

Lãnh thổ là Thiên Hạ, không giới hạn ở biên giới nào, có thể bao phủ toàn bộ 'gầm trời', cái mà các vua Trung Quốc chưa bao giờ kiểm soát được.

Phải đến nhà Thanh họ mới chinh phục Tân Cương, Tây Tạng.

Các bản sao của Thiên Mệnh

 
Thế nhưng tính mập mờ này không phải là đặc thù của tư duy chính trị Trung Hoa.

Đông Nam Á từng có các nước liên thuộc kiểu Mandala, chấp nhận tương quan xê dịch giữa các trung tâm quyền lực, coi nhẹ biên giới cứng.

Từ thời Trung Cổ, các bản sao của Thiên Mệnh được áp dụng ở Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam.

Nhật Bản là kiêu nhất, coi vua của họ là Thiên Hoàng, dòng dõi thần linh.

Sau khi triều Đường ở Trung Quốc bị diệt thì Nhật gọi Trung Quốc là "ngoại triều", và tự nhận là "nội triều", hàm ý hậu duệ của mọi tinh túy từ nhà Đường.

Người Việt Nam tự nhận là Nam, đối lập với Trung Hoa là Bắc Triều, và coi vua nước Nam cũng là thiên tử.

Triều Tiên khiêm tốn nhất, chỉ nhận là "tiểu Trung Hoa", chia sẻ nhãn quan vũ trụ Thiên Mệnh.

Luôn sợ bị lật đổ

 
Về mặt tích cực, thuyết Thiên Mệnh cho phép lật đổ vua chúa 'trái mệnh trời', tức công nhận các vụ giết vua.

Điều này tạo tính chính danh cho nhà Chu khi diệt vua Trụ.
Nhưng nó cũng khiến vua Trung Hoa luôn sợ bị lật đổ, nhất là sau khi Mạnh Tử nói 'dân vi quý'.

Chưa kể vì không có một bên thứ hai, như Giáo hội La Mã ở châu Âu thời xưa, làm trọng tài, thế nào là "vua sống đúng mệnh trời", người ta phải mê tín.

Đầu tiên là mê tín về bản thân.

Những rối loạn xã hội - chuyện bình thường của vận động loài người -và các thiên tai đều bị giải thích là điềm xấu, là dấu hiệu vua "mất tín nhiệm của Trời".

Điều này khiến Trung Hoa khá giống Đế quốc La Mã đa thần trước kỷ nguyên Ki Tô giáo.

Sau khi Hoàng đế Nero giết mẹ đẻ, Tacitus viết:

"Chim oan mang tin dữ đã đáp lên mái cung đình, nhà đổ vì động đất, người yếu bị đám đông cuồng nộ dẫm đạp."
Thêm một trận hỏa hoạn to, thành Rome nổi loạn, Nero bị trục xuất khỏi cung điện và tự sát chết.

Nói như vậy để thấy tất cả sự phẫn nộ đến từ nhân dân trước hành vi sai trái của vua chúa thì Âu và Á đều giống nhau. Các điềm nọ, điềm kia chỉ là phần thêm vào.

Một hậu quả nữa của bệnh Thiên Mệnh là tính kiêu ngạo, chỉ cho mình là đúng.

Thay đổi triều đại là chuyện bình thường ở mọi nước, nhưng tại các xứ tin vào Thiên Mệnh, vua mới luôn tìm cách bôi nhọ ông vua cũ, gọi họ là "tà, nguỵ".

Chuyện này không xảy ra ở châu Âu, vì người ta quan niệm đa số chính trị gia ai cũng như ai mà thôi, cũng phải tính toán, sát phạt, dối trá.

Thiên Mệnh không còn phù hợp

 
Vấn nạn Thiên Mệnh chỉ hết cho đến khi người ta nghĩ ra một ông Trời khác là cử tri.

Chính trị ngày nay khá đơn giản, chẳng ai quan tâm đến Trời.

Nếu được cử tri bầu lên thì cứ việc cầm quyền, còn bị rút lá phiếu thì về nghỉ.

Cách luân chuyển quyền lực này không có gì huyền bí, nhưng cũng đỡ nguy hiểm cho nhà lãnh đạo vì thua phiếu thì về nhà, không bị ai giết cả.

Các anh hùng của Thế Chiến 2 như Winston Churchill, Charles de Gaulle đều bị lá phiếu cử tri cho về nhà nghỉ một cách yên ấm.

Nguyên tắc số 3 -tính luân lý của quyền lực - và nỗi sợ 'trái mệnh trời thì bị giết' đã không còn là vấn đề của thế giới ngày nay.

Còn nguyên tắc 1 - tìm chính danh từ ông Trời - cũng đã được các nhà khoa học châu Âu và Trung Quốc giải thích.
Giang Hiểu Nguyên viết trong "Thiên Học Chân Nguyên" về nguồn gốc thiên văn học (astronomy) của tư tưởng Thiên Mệnh.

Nhà Chu hóa ra đã đem các thành tựu của thiên văn học, việc tìm ra lịch nông nghiệp, định hình các mùa thời ấy để lập thuyết chính danh của tân triều đại.

Một số học giả Trung Quốc cũng tin rằng Chu dùng hiện tượng sao chổi Halley xuất hiện năm 1057 trước Công nguyên để "nhận cho mình" Mệnh Trời.

Nhưng giới nghiên cứu Phương Tây đã tính lại rằng Halley Comet xuất hiện sau đó, không hề gần sự kiện Chu thắng Thương ở trận Mục Dã.

Tóm lại, như Peter Berger đánh giá thì đây là thể thức vũ trụ hóa quyền lực vua chúa (cosmization of the institution of kingship).

Những chuyện tương tự đã xảy ra với văn minh của người Maya, Ai Cập, các bộ tộc châu Phi, nên Mệnh Trời không có gì là độc đáo của Trung Quốc.

Chỉ có điều là nó vẫn còn sang cả thời hiện đại và tiếp tục tác động đến tư duy chính trị Trung Quốc.

Về lãnh thổ, Trung Quốc luôn viện dẫn lại lịch sử hàng nghìn năm để cho rằng họ đã làm chủ các vùng biển xa.

Dù các sách cổ Trung Quốc nhắc đến Nam Hải và việc tiến cống "ngọc trai" của các nhóm "Nam man", các chi tiết đó không có gì chính xác về việc xác định chủ quyền như quan niệm hiện đại.

Chưa kể, Khổng Tử từng nói 'thiên hạ vi công' (thiên hạ là của chung) và tinh thần này được Hugo Grocius nêu trong 'Mare Liberum' (The Freedom of the Seas, 1609), xác định rằng biển, đại dương là của tất cả mọi người.

Để biên giới trên biển, trên bộ 'co giãn' tùy sức mạnh quyền lực không phù hợp với các công ước hiện đại.

Mặt khác, tâm lý Thiên Mệnh khiến Trung Quốc rất khó khăn trong việc chấp nhận các quan hệ đa quốc gia (multi-state relations) một cách bình đẳng.

Chưa kể, tham vọng phải thu tất cả về cùng một gầm trời chỉ đang tạo ra vấn đề cho Trung Quốc ở Hong Kong và Đài Loan.

Raymond Dawson trong cuốn "The Chinese Experience" chỉ ra rằng tuy nhận là Con Trời, trên thực tế, hoàng đế Trung Hoa cũng...là người, chịu ràng buộc của mọi vấn đề thể chế, hệ thống quan lại.

Điều này khiến ông vua Trung Hoa rất nhiều khi chỉ dám "đe doạ ra tay" mà không dám làm, theo Dawson.

Vì bại trận có thể bị thiên hạ diễn giải là 'điềm xấu', khiến tính chính danh của vua tiêu biến và ông ta nhanh chóng bị lật đổ.

Thương chiến vì thế vẫn dùng dằng, cuộc đấu tranh giữa các quan niệm địa chính trị Mới và Cũ cũng chưa dứt.