khktmd 2015






Đạo học làm việc lớn là ở chỗ làm rạng tỏ cái đức sáng của mình, thương yêu người dân, đạt tới chỗ chí thiện. Đại học chi đạo, tại Minh Minh Đức, tại Tân Dân, tại chỉ ư Chí Thiện. 大學之道,在明明德,在親民,在止於至善。












Thứ Ba, 26 tháng 1, 2021

Quan Thượng Thưởng Xuân - Tác giả Phù Lang Trương Bá Phát

 

Tháng bảy năm Nhâm-Thân I8I2, Gia-Long hạ lịnh cho Tả-quân Lê-Văn-Duyệt trấn nhậm Gia-Định tới năm Bính-Tí I8I6.
Quyền lực rộng, oai nghi lớn, Tả-quân Duyệt thực hành đúng vương-quyền của nhà Nguyễn ở trong xứ và trên Cam-bốt.
Trong việc cai-trị miền Nam có Trương-Tấn-Bửu làm phó (Hoàng-Việt, tr.329).
Bắt đầu lúc Tả-quân trấn nhậm, mối bang-giao giữa Việt và Xiêm còn ở điểm chết.
Năm Gia-Long thứ I2 (Quí-Dậu I8I3, sau tháng hai trước tháng sáu) vua Gia-Long xuống chiếu cho Tả-quân Duyêt, quan Hiệp-Trấn Ngô-Nhân-Tịnh đem chiến-thuyền hơn I3.000 quân sĩ đỡ đầu Quốc-Vương Cam-bốt là Nặc-Ông-Chân và gia-quyến đã chạy sang nước ta vì bị các em dùng thế lực quân Xiêm tranh giành ngôi trở về nước. Chiếu truyền ban Nặc-Ông-Chân 3.500 lượng bạc, 5.000 quan tiền, I0.000 hộc gạo.
Lịnh truyền xây cất lại thành Nam-Vang và Chưởng-cơ Nguyễn-văn-Thoại hay là Thoại-Ngọc-Hầu với hơn I.000 binh đóng giữ Nam-Vang cùng bảo-hộ nước Cam-bốt (Nhu Viễn, tr. 77, 79).
Quân ta đắp hai thành, dựng đài An-Biên ; trên đài có xây một căn nhà gọi là Nhu-Viễn-đường, để làm nơi cho Phiên-Vương bái vọng (Bản triều bạn... tr. 2I).
Phiên-Vương hay gọi khác là vua Cam-bốt Nặc-Ông-Chân.
Sách không nói hướng chánh của căn nhà ấy, song tác-giả đoán chừng là nó phải day mặt về phía Tây-nam, chiều đối chiếu lại vị-trí của Kinh thành Huế, vì khi vọng bái Vua Cam-Bốt phải day mặt về hướng Đông-Bắc. « Phiên-Vương dâng 88 con voi, Duyệt thấy rằng Phiên-quốc đang trong lúc xây dựng lại đất nước, kho-tàng hãy còn trống rỗng, nên xin chu trích một số bạc ở kho ra để hoàn lại giá 88 con voi ấy » (Bản triều bạn... tr. 2I).
Thời-gian cai-trị miền Đồng-Nai lần đầu, Tả-quân Duyệt làm cho Nặc-Ông-Chân phải một phen hồi hộp nhơn vụ Tết Nguyên-Đán.
Số là ngoài lễ cống hàng năm, Vua Cam-bốt còn phải xuống chầu nhơn dịp Tết Nguyên-Đán.
Năm ấy, Vua Miên xuống dự lễ ; thay vì ở trong thành Phan-Yên lại ra Sài-Côn thị (tức Chợ Lớn ngày nay) để nghỉ đêm.
Hôm sau trống điểm canh năm, Tả-quân và tiểu-trào hành-lễ tại Vọng-Cung lại vắng mặt Vua Cam-bốt. Tả-quân nhứt định không chờ, đến khi lễ tất, Vua Cam-bốt mới cho người đem lễ vật tiến vào. Tả-quân chiếu điển-lệ, phạt Vua Cam-bốt phải đóng ba ngàn lượng bạc tiền vạ mới cho về nước (V.H.Sển, tr.6I).
Lúc bấy giờ, thành Bến-Nghé xây cất rồi từ năm Canh-Tuất I790 (Sển, tr.48) gọi là Qui-Thành vì theo cặp mắt của khách từ trên cao ngó xuống, thấy nó như là con rùa lớn.
Qui-Thành có cả thảy tám cửa đổi tên qua lại, khiến bạn đọc phải rối óc. Tôi xin thông-dịch rành về tám cửa nầy.
Lúc xưa định phương hướng khác bây giờ nên tôi cũng phải tùy theo hồi ấy.
Tả (bây giờ thì hữu) hay là hướng Đông có hai cửa : Chấn-Hanh (ở lối cuối đường đường Lê-Thánh-Tôn bây giờ) và Cấn-Chỉ (lối đường Hồng-Thập-Tự bây giờ). Sau đời Minh-Mạng đổi lại : Hoài-Lai-môn và Phục-Viễn-môn.
Hữu (bây giờ thì tả) hay là hướng Tây có hai cửa : Đoài-Duyệt (ở gần góc đường Gia-Long và Công-Lý bây giờ) và Tốn-Thuận (ở gần góc đường Hồng-Thập-Tự và Công-Lý bây giờ).
Sau Minh Mạng xuống chiếu đổi lại : Tuyên-Hóa-môn và Định-Biên-môn.
Tiền (bây giờ thì Nam) cũng có hai cửa : Càn-Nguyên (cửa nầy ở ngã tư đường Tự-Do và Lê-Thánh-Tôn bây giờ) và Ly-Minh (ở gần đường Mạc-Đỉnh-Chi nếu đường nầy nối và đường Lê-Thánh-Tôn bây giờ).
Về lúc trào Minh-Mạng hạ chiếu thay lại : Gia-Định-môn và Phan-Yên-môn.
Hậu (bây giờ thì Bắc) cũng có hai cửa : Khôn-Hậu (cửa nầy nay ở lối góc đường Duy-Tân và Phan-Đình-Phùng bây giờ) và Khảm-Hiểm (gần góc đường Mạc-Đĩnh-Chi và Phan-Đình-Phùng bây giờ).
Trào Minh-Mạng, vua sửa lại : Cộng-Thìn-môn và Vọng-Khuyết-môn.
Xây cất Qui-Thành theo thể cách Vauban mà đặt tên tám cửa theo Tàu, vì mượn tên trong Bát-quái mà đặt.
Tóm lại, Qui-Thành nằm trong khoảng các con đường nầy :
- Đông, đại-lộ Cường-Để và Đinh-Tiên-Hoàng,
- Tây, đường Công Lý,
- Bắc, đường Phan-Đình-Phùng,
- Nam, đường Lê-Thánh-Tôn.
Duy có hướng Bắc thì tường thành không tới lề đường Phan-Đình-Phùng còn ba mặt kia tường thành đều chờm ra khỏi ba đường (Hình số III Bản đồ trong sách V.H.Sển).
Sau Minh Mạng truyền lịnh phá hủy Qui-Thành vì Lê-Văn-Khôi làm cách-mạng võ-trang ở Lục-Tỉnh Nam-Kỳ, từ tháng năm năm Quí-Tị (I833), rồi Khôi rút vào thành nầy cố thủ, đến tháng bảy năm Ất-Mùi (I835), Qui-Thành mới bị binh Trào đoạt lại. (Trần-Trọng-Kim, tr. I87 và I88).
Bạn đọc nhóm ý đặng chỗ nằm của Qui-Thành, bây giờ tôi xin tiếp tục nói về Tả-quân.
Công-thự của Tả-quân ở lối đường Thống Nhứt và Hàn Thuyên bây giờ nghĩa là gần tới dinh chủ-giáo chỗ nhà sách Liên-Châu bây giờ. Bà Tả-quân lại ở riêng ra, ngoài thành chỗ Dinh Độc-Lập bây giờ và gọi là Dinh Bà Lớn (Pétrus Ký, tr.29).
Trước ngày I6 tháng giêng, quan Thượng ăn chay, tắm gội cữ kiêng, giữ mình cho trong sạch, ý-tưởng không cong vạy.
Đến ngày ấy, Tả-quân mặc đồ đại-trào, vào Hoàng-Cung bái lễ (Ở trên cao ngó xuống Hoàng-Cung nầy có hình vuông vức, một cạnh ở vào lối lề bên trái đường Thống Nhứt, cạnh giao mặt ở lối đường Nguyễn-Du chạy dài qua khỏi đường Hai Bà Trưng, hai cạnh song song khác một cạnh khỏi đường Hai Bà Trưng chạy lên lề bên trái của đường Thống Nhứt, cạnh nữa chạy từ chỗ xéo đường Nguyễn-Du lên lề trái đường Thống Nhứt).
Sau ba tiếng súng thần công, Tả-quân lên kiệu trước mặt có binh đi xa xa và sau lưng có quân theo. Có khi Tả-quân ra cửa Càn-Nguyên hay gọi là Gia-Định-môn hoặc khi khác ra cửa Ly-Minh hay gọi khác là Phan-Yên-môn, hướng về phía Chợ-Vải nghĩa là hướng Tây, quẹo lên đường Công-Lý hiện nay, tiến về phía Mô Súng (chỗ nầy có tên khác là Đồng Tập Trận, hoặc là Đồng-Phú-Thạnh, tên nầy hiện nay còn dùng như đình Phú-Thạnh, Pháp thì gọi là « Đồng của Hình Nhiều Góc » (champ du polygone. Pétrus Ký, tr. I9) hoặc là Đồng Mả Mồ (plaine des Tombeaux) vì xưa kia chỗ nầy minh-mông đồng trống dẫy đầy Mả Mồ, không phân biết đặng ranh-giới).
Từng chập lính pháo-thủ bắn đại-bác, quân-sĩ chia hai mặt đánh nhau.
Tượng-binh cũng tập dượt, tấn thối có chiến-pháp, day trở có phương-lược.
Đây là ngày Tết, tượng-binh chỉ diễn-hành phô-trương vậy thôi.
Thời-giờ của Tả-quân có hạn, Tả-quân còn phải xem xét Thủy-Xưởng và chứng-kiến một cuộc tập thủy-chiến nữa.
Tập tượng-quân theo ngày thường như vầy :
«... Dùng voi trận thì dùng voi phá ba lũy tre ; sau lũy có quân lính có súng đứng nấp ; hỏa pháo, chiêng, trống, đồng thời hò hét khua giậy làm cho voi khiếp đảm. Khi một chiến lũy bị voi xông phá, quân sĩ lại lui về nấp ở chiến lũy sau.
Ở mặt lũy thứ nhất và giữa các mặt lũy khác đều có đặt những bồ-nhìn cầm gậy lam binh khí.
Mỗi con voi trên có quản tương, đằng sau voi có nhiều lính cầm gậy để thúc voi phải tiến và ngăn không cho lùi lại. Khi cả ba lũy đều bị voi xông qua được, quản tượng và quân sĩ lại hết sức hò hét quát tháo xua voi trở lại chỗ cũ và lập một trận giả khác. Cứ như thế tập đủ ba lần liền rồi mới lịnh truyền cho voi nghỉ... » (Tiên Đàm Nguyễn-Tường-Phượng, tr.48).
Bây giờ trở về với Tả-quân. Người đi vòng quanh theo hào thành (không biết hồi bấy giờ là đường gì, sau Pháp kêu là đượng Mọi (rue des Moĩs) và hiện nay là đường Phan-Đình-Phùng) xuống xem xét Thủy-Xưởng (chắc ở sở Ba Son bây giờ).
Mãn cuộc, Tả-quân vô thành có lẽ là cửa Cấn-Chỉ hay gọi khác là Phục-Viễn-môn.
Trong lúc những cuộc lễ, tập trận, thường-dân đốt pháo, gây tiếng động cốt là làm ồn-ào lên để đuổi tà ma quỉ mị ra khỏi nhà họ (Pétrus Ký, tr.I6).
Ngày thường Tả-quân còn coi đá gà, còn xem hát bội huống hồ chi ngày Tết là ngày vui vẻ nên Tả-quân thường giải-trí trong các trận đá gà và hát bội.
Trường gà cũng gọi là nhà hoa, trường hát bội cũng gọi là nhà hát, sân bắn ná gọi là trường ná đều ở ngoài thành tứ lối Tòa Tư Pháp bây giờ, dinh Độc-Lập và trường học J.J. Rousseau của Pháp hiện nay (Pétrus Ký, tr. 29, 32).
Có lẽ thời Tả-quân cai trị là thời vàng son của các tay đá gà và các nghệ-sĩ hát bội.
Lúc cai-trị Lục-Tỉnh lần thứ nhất nầy, có lần Tả-quân phải thân-chinh ra Quảng-Ngãi để trừ bọn mọi. Việc kể cũng là lạ và làm cho oai Tả-quân càng lên cao mà duy có « Bản triều bạn nghịch liệt truyện » nói đến mà thôi.
Số là năm Gia-Long thứ I4, Ất Hợi I8I5 (tháng sáu, Nguyễn Triệu, Văn Hóa Ng. S, số 45, I959) bọn mọi dữ ở tỉnh Quảng-Ngãi lại ra quấy nhiễu dân cư nơi biên-giới. Quan trấn-thủ Phan-Tấn-Huỳnh đem quân đánh với chúng bị thất-bại. Tổng-trấn Gia-Định Lê-Văn-Duyệt lại đem quân tới. Bọn mọi dữ biết tin, đều liền trốn hết. Duyệt tâu xin đắp thành Bình-Man, ngoài cắm chông, dưới chân thành thì đào hào, phía Bắc tới Gia-Tiên, giáp phủ Thăng-Bình tỉnh Quảng-Nam ; phía Nam tới Đồng Xanh, giáp phủ Y-Nhân (Đồng-Nhân) tỉnh Bình-Định, được 37.479 trượng ta, để sáu cơ-binh trấn-giữ.
Xét ra ông Lê-Văn-Duyệt tới Quảng-Ngãi tất cả bốn lần để kinh-lý các việc biên-giới. Bọn mọi dữ Thạch-Bích (Đá Vách) nghe được, liền trốn hết, không dám kháng-cự. (Bản triều..., tr.24, 25).
Thật ra, bốn tiếng « Nam tảo Bắc trừ » dùng đối với Tả-quân rất đúng lắm vậy.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét