khktmd 2015






Đạo học làm việc lớn là ở chỗ làm rạng tỏ cái đức sáng của mình, thương yêu người dân, đạt tới chỗ chí thiện. Đại học chi đạo, tại Minh Minh Đức, tại Tân Dân, tại chỉ ư Chí Thiện. 大學之道,在明明德,在親民,在止於至善。












Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2019

Tại Sao Việt Nam Không Bị Đồng Hóa Sau Ngàn Năm Bắc Thuộc- Tác giả Nguyễn Hải Hoành



Tiếng ta còn thì nước ta còn!

Đng hóa dân tc (national assimilation) gm: 1- Đng hóa t nhiên, tc quá trình dân tc A trong giao tiếp vi dân tc B, do chu nh hưởng lâu dài ca B mà A t nhiên dn dn mt bn sc ca mình, cui cùng b B đng hóa; đây là mt xu hướng t nhiên trong tiến trình lch s loài người. 2- Đng hóa cưỡng chế: s cưỡng bc mt dân tc nh yếu hơn chp nhn ngôn ng, ch viết, phong tc, tp quán ca mt dân tc ln mnh hơn; đây là mt ti ác.


Đng hóa dân tc ch yếu din ra dưới hình thđng hóa văn hóa, trong đó ch th đng hóa thường là mt nn văn hóa mnh và tiên tiến (như đông dân hơn, kinh tế phát trin hơn, đã có ch viết, có các h tư tưởng), đi tượng đng hóa thường là nn văn hóa yếu và lc hu hơn. Đng hóa ngôn ng là công c đng hóa văn hóa thông dng nht, quan trng nht, hiu qu nht. Mt dân tc b mt tiếng nói m đ ca mình và phi nói tiếng ca mt dân tc khác thì không còn gi được bn sc dân tc na.


Trong lch s, các nn văn hóa yếu thường b nn văn hóa mnh đng hóa. Thi c, Trung Quc là quc gia đông người nht và có nn văn minh tiên tiến nht châu Á. Nn văn hóa Hán ng ca h có sc đng hóa rt mnh. Dân tc Hi phía Tây nước này, ngày xưa dùng ch A Rp, sau nhiu năm giao lưu vi người Hán cũng toàn b dùng ch Hán và nói tiếng Hán. Ngay c các dân tc nh nhưng mnh v quân s, sau khi thôn tính và thng tr Trung Quc được ít lâu cũng b nn văn hóa Hán ng đng hóa.
Thí d dân tc Mãn sau khi chiếm Trung Quc và lp triu đi nhà Thanh đã lp tc tiến hành đng hóa dân tc Hán: cưỡng bc đàn ông Hán phi co na đu và đ đuôi sam, phi b ch Hán mà ch dùng ch Mãn làm ch viết chính thc trên c nước. Nhưng đến gia đi Thanh, tc sau khong 100 năm thì tiếng Mãn cùng ch Mãn đu biến mt, t đó tr đi người Mãn ch dùng tiếng Hán và ch Hán, nghĩa là h li b đng hóa ngược bi chính nn văn hóa ca dân tc b h cai tr lâu ti 267 năm!
Các nước đế quc thc dân sau khi chiếm thuc đa đu cưỡng chế đng hóa ngôn ng dân bn x, quá trình này din ra khá nhanh, nhìn chung sau 5-6 thế h (mi thế h 25 năm), tiếng nói ca người bn x đã b thay bng ngôn ng ca nước cai tr. Đu thế k XV, Brazil b B Đào Nha chiếm, chng bao lâu tiếng B tr thành ngôn ng chính thc duy nht ca người Brazil. Nhiu thuc đa Pháp châu Phi như Bénin, Togo, Sénegan… dùng tiếng Pháp làm ngôn ng chính duy nht. Năm 1918 nước ta bt đu dy tiếng Pháp lp cui tiu hc, 10-20 năm sau toàn b hc sinh trung hc cơ s tr lên đến trường đã ch nói tiếng Pháp, giáo viên ch ging dy bng tiếng Pháp. Nếu c thế dăm chc năm na thì có l Vit Nam đã tr thành nước nói tiếng Pháp.
Thế nhưng sau hơn 1.000 năm b bn phong kiến người Hán thng tr và cưỡng bc đng hóa, dân tc Vit Nam vn không b Hán hóa, vn gi nguyên được nòi ging, tiếng nói và phong tc tp quán.
Đây qu là mt điu kỳ diu có l chưa dân tc nào khác làm được. Đáng tiếc là chưa thy nhiu người quan tâm nghiên cu vn đ này, mt thành tu vĩ đi đáng t hào nht ca dân tc ta (nói cho đúng là ca t tiên ta thôi, còn chúng ta bây gi thua xa các c).
Vì sao t tiên ta có th làm được kỳ tích y? Có người nói đó là do dân ta giàu tinh thn yêu nước, tinh thn dân tc, xã hi có cơ chế làng xã bn cht, v.v… Nói như vy có l còn chung chung, nếu đi sâu phân tích tìm ra được nguyên nhân c th thì s giúp ích hơn cho vic phát huy các truyn thng quý báu ca dân tc ta. Thc tế cho thy t tiên ta giành được thng li chng đng hóa không phi bng đu tranh vũ trang mà ch yếu bng tài trí.
Xin nói thêm rng chính người Trung Quc cũng rt quan tâm vn đ này. Chúng tôi đã th nêu lên mng Bách Đ (Baidu) ca h câu hi “Vì sao Trung Quc thng tr Vit Nam hơn 1.000 năm mà Vit Nam không b đng hóa?”
T hàng triu kết qu, có th thy đa s dân mng Trung Quc đu có chung mt thc mc ln: Vì sao b Trung Quc thng tr lâu thế mà người Vit Nam vn không nói tiếng Trung Quc? Nói cách khác, h coi đng hóa ngôn ng là tiêu chun đng hóa quan trng nht và đu tha nhn Trung Quc đã không đng hóa ni Vit Nam. H t ra tiếc nui v s kin Vit Nam sau hơn 10 thế k tng là qun huyn ca Trung Quc, tng dùng ch Hán hàng nghìn năm mà rt cuc li tr thành mt quc gia đc lp, dùng ch Latin hóa, ngày nay là nước chng li mnh nht chính sách xâm ln Bin Đông ca Bc Kinh.
Do hiu biết Vit Nam rt ít, thm chí hiu sai, hu hết dân mng Trung Quc không tìm được li gii thc mc trên, k c người t ra am hiu lch s nước ta. H nêu các lý do:
– Văn hóa Vit Nam có trình đ Hán hóa cao(?), người Vit rt hiu và không phc Trung Quc;
– Vit Nam quá xa Trung nguyên, khí hu nóng, quan li người Hán ngi sang Vit Nam làm vic, đã sang thì ch lo làm giàu, không lo đng hóa dân bn x;
– Các nhân vt tinh hoa Trung Quc như Lưu Hy, Ha Tĩnh, Ha T, Viên Huy (劉熙、許靖、許慈、袁徽) chy lon sang Vit Nam đã giúp nước này có nn văn hóa không kém Trung Quc;
– Người Hán di cư đến Vit Nam đu b người bn x đng hóa v.v…
Nói chung h đu chưa thy, hay c ý l đi nguyên nhân chính là tài trí ca người Vit.
Nhưng h nói người Vit Nam hiu Trung Quc là đúng. Do sm hiu rõ ý đ thâm him ca phong kiến người Hán mun đng hóa dân tc ta nên t tiên ta đã kp thi đ ra đi sách. C th là đã tìm ra cách gi gìn được tiếng nói ca dân tc mình trong quá trình b bn thng tr người Hán cưỡng bc hc ch Hán.
My nghìn năm sau, mt hc gi ln ca dân tc ta tóm tt bài hc lch s này trong mt câu nói rt chí lý: “Tiếng ta còn thì nước ta còn!
Sau khi chiếm nước ta (203 tr. CN), Triu Đà đã ép buc dân ta hc Hán ng, nhm đng hóa h bng ngôn ng. Có l đây là thi đim mun nht ch Hán vào nước ta.[1]Sách “Vit giám Thông kho Tng lun” do Lê Tung viết năm 1514 có chép vic h Triu m trường dy người Vit hc ch Hán.[2] V sau, tt c các triu đi người Hán cai tr Vit Nam đu thi hành chính sách đng hóa. Triu nhà Minh còn tìm cách tiêu dit nn văn hóa ca ta, như tiêu hy toàn b các thư tch do người Vit viết, bt nhân tài, th gii người Vit sang Trung Hoa phc dch.
Như vy, dân tc ta buc phi chp nhn hc ch Hán t rt sm (trước Triu Tiên, Nht Bn nhiu thế k). Do hiu biết người Hán nên tng lp tinh hoa người Vit đã nhanh chóng nhn ra nếu c hc như thế thì cui cùng tiếng Vit s b thay bng tiếng Hán, dân ta s tr thành mt b phn ca Trung Quc.
Vy cha ông ta đã dùng cách nào đ gi được tiếng nói ca dân tc trong hơn 1.000 năm b cưỡng bc hc và dùng ch Hán cũng như phi tiếp thu nhiu yếu t ca nn văn minh Trung Hoa?
Vn đ này rt cn được làm sáng t đ t đó hiu được truyn thng quý báu ca dân tc ta. Dưới đây chúng tôi xin mo mui góp vài ý kiến nông cn, nếu có sai sót mong quý v ch bo.
Đc ch Hán bng tiếng Vit: Mt sáng to xut sc ca t tiên ta
Ch viết hình vuông là mt phát minh ln ca nn văn minh Trung Hoa, được người Hán chính thc s dng t đi nhà Thương (thế k 16 đến 11 tr. CN), ngày nay ph biến được gi là ch Hán.
Thc ra trong hơn 2.000 năm k t ngày ra đi, th ch viết y ch được người Hán gi là ch  (t) hoc văn t 文字. Đến đi Đường (thế k VII) cái tên 漢字 (Hán t, tch Hán) mi xut hin ln đu trong sách Bc S 北史 do Lý Diên Th biên son.[3] Sau đó người Nht và người Triu Tiên cũng gi th ch này là Hán t: tiếng Nht đKanji, tiếng Triu Tiên đHantzu. Cho ti nay B Giáo dc Đài Loan vn ch gi là Quc t 國字.
Vì th ch y khi vào Vit Nam còn chưa có tên nên t tiên ta bèn đt cho nó cái tên là ch Nhovi ý nghĩa là ch ca người có hc, bi l Nho  là t dùng đ gi nhng người có hc. Dân ta gi người dy ch là thy đ Nho, bút và mc h dùng đ viết ch là bút Nho và mc Nho.[4]
Đây qu là mt điu đc đáo, bi l Hán ng xưa nay chưa h có khái nim ch Nho; tt c t đin Hán ng c hoc hin đi và các t đin Hán-Vit đu không có mc t Nho t 儒字 vi ý nghĩa là tên gi ca ch Hán.
Có th suy ra: Vit Nam thi xưa không có ch viết (hoc đã có ch Vit c nhưng chưa hoàn thin, chưa din t được các khái nim tru tượng), vì thế khi tiếp xúc vi ch Hán, tng lp tinh hoa ca t tiên ta đã nhn thy đây là mt phương tin cc kỳ hu ích dùng đ truyn thông tin được xa và lâu, không b hn chế v khong cách và thi gian như cách truyn thông tin bng tiếng nói, do đó h đã sm nghĩ ti vimượn th ch này làm ch viết ca dân tc ta.
Mun vy dân ta phi biết ch Hán, mt th ngoi ng. Làm cho dân chúng hc và dùng được mt ngoi ng là vic hoàn toàn bt kh thi thi y. Hơn na ch Hán c khó đc (vì không biu âm), khó viết (vì có nhiu nét và cu to phc tp), khó nh (vì có quá nhiu ch), thuc loi ch khó hc nht trên thế gii.
Nói chung, mi ch viết đu có mt âm đc; không ai có th xem mt văn bn ch mà không va xem va đc âm ca mi chc thm hoc đc thành tiếng). Mi ch Hán đu có mt âm tiếng Hán; mun hc ch Hán tt phi đc được âm ca nó. Viết ch Hán khó, tuy thế tp nhiu ln s viết được, nhưng do khác bit v h thng ng âm, người Vit nói chung khó có th đc được các âm tiếng Hán.
Ngoài ra Trung Quc là mt nước rng ln, đông dân; cho ti trước na cui thế k 20 c nước vn chưa thng nht được âm đc ca ch. Loi ch này ch th hin ý nghĩa, không th hin âm đc, cho nên nhìn ch mà không biết cách đc. Người dân các vùng xa nhau thường đc ch Hán theo âm khác nhau, thm chí khác xa nhau, vì thế thường không hiu nhau nói gì. Các th tiếng đa phương y ta gi là phương ng, người Hán gi là phương ngôn (方言); Hán ng hin có 7 phương ng ln, nhiu phương ng nh (次方言).
Không thng nht được âm đc ch Hán là mt tai ha đi vi người Hán. Vi người nước ngoài hc ch Hán cũng vy: khi mi ông thy Tàu đc ch Hán theo mt âm khác nhau thì hc trò khó có th hc được th ch này.
Đ có th hc được ch Hán mà không cn đc âm tiếng Hán, tng lp tinh hoa ca t tiên ta đã sáng to ra mt gii pháp xut phát t ý tưởng: nếu người Hán khác vùng có th t đc ch Hán theo âm riêng ca vùng, thì ta cũng có th đc ch Hán theo âm riêng ca người Vit.
Mun vy, mi ch Hán được t tiên ta quy ước đc bng mt (hoc vài, tùy ch Hán gc) âm tiếng Vit xác đnh có gc là âm ch Hán — ngày nay gi là âm Hán-Vit, nghĩa là mi ch Hán đu được đt cho mt (hoc vài) cái tên tiếng Vit xác đnh, gi là t Hán-Vit.
Thí d ch  được đt tên là ch Thy, âm đthy khác vi âm đshuy ca người Hán. Ch , tiếng Hán đsưa, ta đc scThy và Sc là t Hán-Vit, cũng là âm Hán-Vit c.
Âm/t Hán-Vit được chn theo nguyên tc c gng bám sát âm Hán ng mà t tiên ta tng biết.[5] Như ch , âm Hán và âm Hán-Vit đu đchung, tc ht như nhau; ch , Hán ng đhái, ta đHài, gn như nhau. Nhưng hu hết ch đu có âm Hán-Vit khác âm Hán. Như âm Hán là chí, ta đTp ;  giú, ta đNho. Có ch âm Hán như nhau mà âm Hán-Vit có th như nhau hoc khác nhau, như  và , âm Hán đu là thúng, t Hán-Vit đu là Đng ; nhưng  và , âm Hán đu là xi, li có hai t Hán-Vit khác nhau là H và Tế. Ch Hán có hai hoc nhiu âm thì có th có mt, hai hoc nhiu âm/t Hán-Vit, như  có hai âm Hán là tâu và tu, li ch có mt âm/t Hán-Vit là Đô ;  có hai âm Hán sho và shao, cũng có hai âm/t Hán-Vit là Thiu (trong thiu s) và Thiếu (trong thiếu niên).
Th ch Hán đc bng âm Hán-Vit này được dân ta gi là ch Nho. Vì đc ch bng tiếng m đ nên ch Nho tr nên d hc đi vi người Vit: ch cn hc mt ch, nghĩa ch và cách viết văn ch Hán mà không cn hc phát âm cũng như hc nghe/nói tiếng Hán. Vì thế thi xưa nông thôn nước ta không hiếm người 6-7 tui đã biết ch Nho.[6]Nguyn Trung Ngn (1289-1370) 12 tui đ C nhân, 16 tui đ Hoàng giáp (Tiến sĩ). Người không biết ch cũng có th hc truyn ming các tác phm ngn có vn điu, như Tam Thiên T.[7]
Người biết ch Nho có th xem hiu các thư tch ch Hán, viết văn ch Hán; tuy không nói/nghe được tiếng Hán nhưng vn có th dùng bút đàm đ giao tiếp bình thường vi người Hán. Ch bng bút đàm ch Nho, Phan Bi Châu giao tiếp được vi các nhà ci cách Trung Quc và Nht Bn, đưa được my trăm thanh niên Vit Nam sang Nht hc quân s chính tr, chun b v nước đánh đui thc dân Pháp.
Cn nhn mnh: vì âm/t Hán-Vit không th ghi âm hu hết t ng tiếng Vit cho nên cách đc ch Hán theo âm Vihoàn toàn không th biến tiếng Vit thành mt phương ng ca Hán ng,[8] và dân ta vhoàn toàn nói và nghe bng tiếng m đ.
Ch Nho ch dùng đ viết mà thôi, và ch được gii tinh hoa (trí thc và quan li người Vit) dùng trong giao dch hành chính, ngoi giao, l tiết, chép s, giáo dc, thi c, sáng tác văn thơ. Còn Trung Quc, nhng người nói mt trong các phương ng tiếng Hán đu có th dùng ch Hán đ ghi âm được toàn b tiếng nói ca phương ng y, nghĩa là h có th dùng ch Hán đ ghi âm tiếng m đ.
Dĩ nhiên cách đc tiếng Vit ch có th làm vi ch Hán, là loi ch biu ý (ghi ý), ch không th làm vi ch biu âm (ghi âm). Ngày nay âm/t Hán-Vit ca mi ch Hán có th d dàng viết ra bng ch Quc ng (mt loi ch ghi âm), nhưng ngày xưa, khi chưa có bt kỳ loi ký hiu nào ghi âm tiếng nói, t tiên ta ch có th truyn khu. Thế mà l thay, vic dy ch Nho đã được m rng, thi Nguyn là đến tn làng, có th suy ra t l người biết ch Hán ca dân ta cao hơn Trung Quc!
Ch bng cách truyn ming mà người Vit thi xưa đã to ra được mt b t Hán-Vit tương ng vi b ch Hán khng l — b ch này trong T đin Khang Hy (1716) có hơn 47 nghìn ch; Tiêu chun Nhà nước Trung Quc GB18030 (2005) có 70.217 ch; Trung Hoa T hi có 85.568 ch Hán.
Quá trình tiến hành Vit Nam hóa phn ng âm ca ch Hán kéo dài trong hàng nghìn năm, là mt thành tu văn hóa vĩ đi. Có th phng đoán đó là mt quá trình m, do nhiu thế h người Vit thc hin, th hin sc sáng to bt tn ca t tiên ta.
Nht và Triu Tiên cũng mượn dùng ch Hán, nhưng h t đến Trung Hoa nghiên cu đem ch Hán v dùng ch không b ép dùng t sm như ta. H cũng đc ch Hán theo âm bn ng ca dân tc mình — gii pháp do người Vit nghĩ ra và thc hin trước h nhiu thế k.
Nhà ngôn ng hc ni tiếng Nguyn Tài Cn nói: “Cách đọc Hán Vit là mt tài sn ca riêng dân tc ta. Có dùng nó khi đọc Đạo đức kinh, Kinh Thi, S t… thì mi phù hp vi thói quen dân tc, tin li cho dân tc. Theo ý chúng tôi, dùng cách đọc Hán Vit nhng trường hp này là mt điu hết sc phù hp vi khoa hc. Đọc theo li Hán Vit thì d hiu hơn, bi l ngay trong tiếng Vit đã có khá nhiu tiếng Hán Vit quen thuc, ch đọc lên, nghe được, là hiu được; đọc theo li Hán Vit thì cũng thun tai hơn… ”.[9]
Đúng thế. Thí d t 社會, người Anh biết Hán ng đshưa huây, người Anh không biết Hán ng khi nghe âm đc y s chng hiu gì; còn người Vit biết Hán ng đc “xã hi”, người Vit không biết Hán ng nghe đc s hiu ngay nghĩa ca t; âm “xã hi” thun tai, d đc d nh hơn âm shưa huây. Rõ ràng cách đc Hán-Vit tht tin li cho người Vit. Trong bài sau, chúng tôi s nói thêm v vn đ này.
Ngày nay mi ch Hán trong tt c các t đin Hán-Vit đu phi ghi kèm t Hán-Vit tương ng. Hán-Vit T đin ca Thiu Chu có kèm Bng tra ch theo âm Hán-Vit, dùng tra ch Hán rt tin và nhanh hơn tra theo b th. Người có sáng kiến làm Bng này là bà Nguyn Th Quy (1915-1992), em rut Thiu Chu, khi bà ln đu xut bn T đin nói trên ti Sài Gòn năm 1966.[10]
Như vy, bng cách đc ch Hán theo âm tiếng Vit, t tiên ta đã thành công trong vic mượn ch Hán đ dùng làm ch viết chính thc ca dân tc mình và gi nó là ch Nho. S vay mượn này chng nhng không làm cho tiếng Vit b biến mt mà còn làm cho nó phong phú hơn rt nhiu, tr thành mt ngôn ng cc kỳ linh hot, có th tiếp nhn và Vit hóa hu như toàn b t ng mi xut hin trong tiến trình phát trin ca loài người toàn cu.
Ch Nho khác ch Hán phn ng âm: nó là ch Hán được đc bng âm tiếng Vit ch không đc bng âm tiếng Hán như ch người Hán dùng. Nói cách khác, ch Nho là ch Hán đã được Vit Nam hóa phn ng âm; còn v t dng và nghĩa ch thì cơ bn như ch Hán ca người Hán. Vì thế có người gch Nho  ch Hán-Vit.
Rõ ràng nó là ch ca người Vit Nam, đã Vit Nam hóa phn ng âm, không th coi là ch ca người Hán. Ch Nho là ch viết chính thc ca dân tc ta trong hơn 2.000 năm, k t thi đim mun nht là bt đu thi Bc thuc cho ti khi được thay thế bng ch Quc ng cc kỳ ưu vit, được chính các nhà Nho tiên tiến tán thưởng và đi tiên phong ng h s ph cp Quc ng.
Cách đc ch Hán bng âm/t Hán-Vit đã đáp ng nhu cu giao tiếp bng bút đàm gia quan li cp thp người Vit vi quan li cp cao người Hán, khiến cho bn thng tr người Hán vn thc thi được quyn lc cai tr dân bn x. Hơn na, cách đó làm cho vic ph cp ch Hán trong người Vit tr nên d dàng, tc đáp ng yêu cu dy ch Hán ca các vương triu người Hán. Vì vy chúng không còn lý do cưỡng chế dân ta phi hc nghe/nói tiếng Trung Quc.
Cách đc ch Hán như trên đã có tác dng không ng là làm cho người Hán dù có cai tr Vit Nam bao lâu thì cũng không th tiêu dit ni tiếng Vit và Hán hóa được dân tc ta. Có th là khi bt đu sáng to cách đc y, t tiên ta chưa nghĩ ti điu đó, nhưng rt cuc sáng to xut sc này đã giúp dân tc ta tránh được nguy cơ b người Hán đng hóa. Đây là mt thành công vĩ đi!
Đáng tiếc là hin không thy có thư tch nào ghi chép ai nghĩ ra và thi đim nào xut hin cách đc ch Hán bng âm/t Hán-Vit. Có th cho rng sáng kiến đó ra đi khi ch Hán bt đu vào nước ta, tc mun nht là khong thế k 2 – 1 tr.CN.
Có ý kiến cho rng cách đc Hán-Vit bt ngun t h thng ng âm tiếng Hán đi Đường, c th là Đường âm dy Giao Châu vào khong hai thế k 8, 9.
Nếu hiu ý kiến này theo nghĩa đến đi Đường mi xut hin cách đc Hán-Vit thì e rng khó có th gii đáp câu hi: vy thì trong thi gian khong ngót 1000 năm trước đó người Vit đc ch Hán bng cách nào? Đến đi Đường, người Hán đã thng tr Vit Nam được hơn 9 thế k, quá tha thi gian đ h hoàn toàn đng hóa người Vit bng văn hóa, ngôn ng, khi y tiếng Vit đã b biến mt, sao còn có th xut hin cách đc Hán-Vit?
Phi chăng nên hiu ý kiến trên theo nghĩa: đến thi Đường, cách đc Hán-Vit được hoàn thin nh hc tp Đường âm dy Giao Châu vào khong thế k 8 – 9.
***
Có th kết lun: dân tc Vit Nam tn ti được và không b đng hóa sau hơn 1.000 năm chu s thng tr ca mt quc gia lin k có nn văn hóa ln mnh là nh đã phát huy bn lĩnh trí tu ca mình, th hin ch sáng to được bin pháp đc ch Hán bng tiếng Vit, qua đó đã vô hiu hóa ch trương đng hóa ngôn ng ca các triu đi phong kiến Trung Hoa.
Có nhng người Hán đã nhn ra bn lĩnh trí tu y ca người Vit.
Năm 987, nhà Tng c Lý Giác 李覺 đi s sang Hoa Lư, Vit Nam, được hai v Quc sư Khuông Vit và Pháp Thun đón tiếp, đàm phán các vn đ quc gia đi s và ha thơ. Khi v nước, Lý Giác tng vua Lê Đi Hành mt bài thơ, trong có câu: “Thiên ngoi hu thiên ưng vin chiế天外有天應遠照”, nghĩa là: “Ngoài tri này còn có tri khác, nên nhìn thy”. Nói cách khác, thế gii này đâu phi ch có mt mt tri Trung Hoa mà còn có mt tri Vit Nam!
Câu thơ cho thy Lý Giác đã bước đu nhn ra bn lĩnh trí tu ca người Vit. Đúng thế, t tiên ta tht vô cùng tài gii, nếu không thì còn đâu giang sơn tươi đp này!
                                                                 

[1] Nói là “mun nht” vì còn có các quan đim như: ch Hán vào VN qua con đường giao thương hoc truyn bá tôn giáo t lâu trước khi nước ta b Triu Đà chiếm; VN đã có ch viết t đi Hùng Vương (Hoàng Hi Vân: Thin sư Lê Mnh Thát và nhng phát hin lch s chn đng).
[2]宋代中越文学交流述 có câu 黎嵩越鑑通考總論 viết : 趙佗建立學校,導之經義。由此已降,四百余年,頗有似類” .

[3] Bài 汉字名称的来由 (http://blog.sina.com.cn) và mt s bài khác có viết: T  Hán t  漢字 xut hin sm trong Bc s, quyn 9 [biên son xong năm 659]. 汉字一词早出自《北史》卷九本纪第九, “章宗一十八年,封金源郡王.习本朝语言小字汉字经书,进士完颜匡、司经徐孝美等侍读”. T Hán t xut hin nhiu trong sách Kim s 金史(năm 1345) đi Nguyên. đi nhà Thanh (1644-1911), thi kỳ đu do ch viết chính thc ca chính quyn không phi là ch Hán mà là ch Mãn (满文) nên phi dùng tên gch Hán 漢字 đ ch loi văn t truyn thng ca người Hán, nhm phân bit vi ch Mãn.

[4] Có ý kiến nói do thi by gi th ch đó được dùng đ dy dân ta hc Nho giáo 儒教nên dân ta gi nó là ch Nho. Nhưng Nho vi nghĩa “người có hc” xut hin trước rt lâu, sau đó mi dùng ch y vào t Nho giáo đ gi hc thuyết ca Khng T. Cùng lý do y, ch Khng có trước khi Khng T ra đi.

[5] Khó có th biết đó là âm tiếng đa phương nào TQ. Trong đó có nhng âm tiếng Qung Đông, như nht, nhì, shp, hc chp khi đc các ch  一,二,十,學習 (âm Hán-Vit đnht, nh, thp, hc tp).

[6] Thí d Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) 8 tui hc ch Nho, 13 tui văn hay ch tt, 24 tui đu Gii Nguyên, 28 tui đu Đ tam giáp Tiến sĩ. Phan Bi Châu (1867-1940) 6 tui hc ba ngày đã thuc lòng 1440 ch Nho trong Tam T Kinh. Trn Gia Minh tác gi sách Huyn thoi Kim thiếp Vũ Môn 5-6 tui đã hc ch Nho truyn khu t người ông mù lòa.

[7] Do nhà Nho Đoàn Trung Còn sáng tác, là mt bài vè dài, mi câu hai âm, đc lên có vn điu d nh.

[8] Năm 1867, G. Aubaret trong cuGrammaire annamite tng sai lm nhn đnh: “Tiếng bình dân nói trong vương quc An Nam là mt phương ng ca tiếng Trung Quc” (trích dn theo Phm Th Kiu Ly trong “Ghi âm tiếng Vit bng ch Quc ng”, sách “Tiếng Vit 6”, Nxb Tri Thc, 2015).

[9] Nguyn Tài Cn : Ngun gc và quá trình hình thành cách đc Hán Vit.

[10] Dn theo Lê Quc Trinh, con trai bà Quy và là người trc tiếp tham gia làm Bng tra này.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét